Từ nhỏ ông đã được cha dạy làm thơ cổ. Ðặng Xuân Thiều tham gia cách mạng từ rất sớm, ông đã dành cả tuổi thanh xuân để sống, chiến đấu và xây dựng phong trào cách mạng.
Ðặc biệt, ông có công lao tổ chức, xây dựng phong trào cách mạng thành phố cảng Hải Phòng những năm 30 của thế kỷ trước. Chiến sĩ cộng sản kiên cường Ðặng Xuân Thiều đồng thời cũng là một thi sĩ xuất sắc.
Ðầu năm 1929, theo quyết định của tổ chức, Ðặng Xuân Thiều đã đi vào phong trào vô sản hóa để vận động công nhân giác ngộ trong hãng đóng tàu Sô-va, nhà máy Quảng Sinh Long, nhà máy Ca-rông, hãng buôn Sáp-phăng-giông.
Ngày 28-7-1929, Hội nghị đại biểu Tổng công hội đỏ Bắc Kỳ họp lần thứ I tại Hà Nội, ông là một trong ba đại biểu của Công hội đỏ Hải Phòng dự họp. Ông cũng là người từng viết cho báo Ðồng lòng, Tranh đấu và các tờ báo của công đoàn và Ðảng bộ Hải Phòng lưu hành bí mật thời đó. Trong đấu tranh cách mạng Ðặng Xuân Thiều đã sáng tác nhiều thơ để cổ động và hướng dẫn phong trào quần chúng. Hàng loạt các bài thơ như: Trả lời cha, Người thợ, Sốt ruột, Thất nghiệp, Xóm Lạc Viên, Thăm xóm chài ở Ðồ Sơn, Bãi công ở Hải Phòng, Vô sản diễn ca... ông đều viết trong thời gian đi vào vô sản hóa ở Hải Phòng. Ông diễn thuyết trong các xí nghiệp, trường học, rạp hát và viết báo. Chính tại đây, ông đã viết Vô sản diễn ca (dài 400 câu) để truyền bá tư tưởng Lê-nin và kêu gọi cách mạng vô sản. Vô sản diễn ca của Ðặng Xuân Thiều đã được lưu truyền suốt ba miền trung, nam, bắc. Khi sưu tầm văn học cách mạng, nhiều người đã từng gặp Vô sản diễn ca với nhiều dị bản và liệt vào loại thơ "khuyết danh". Cho mãi đến khi tập thơ Ðặng Xuân Thiều được xuất bản mới hay rằng ông là tác giả.
Giữa năm 1930 thực dân Pháp điên cuồng đánh phá các cơ sở cách mạng ở Hải Phòng; gần nửa số đảng viên và nhiều quần chúng cách mạng bị bắt. Nhà lao Hải Phòng giam đến gần 100 tù chính trị. Trước tình hình ấy, tháng 9-1930 Tỉnh ủy lập Ủy ban tranh đấu gồm năm ủy viên do Tỉnh ủy viên Ðặng Xuân Thiều phụ trách. Theo chủ trương của Tỉnh ủy, ủy ban đã tổ chức rải truyền đơn khắp thành phố trong ngày 5 và 7-9-1930 kêu gọi nhân dân biểu tình, chống khủng bố, bắt bớ. Ngày 7-9-1930 thực sự là ngày biểu dương lực lượng, là đỉnh cao của phong trào đấu tranh của công nhân, nông dân, học sinh và các giới lao động khác ở Hải Phòng trong năm 1930 dưới sự lãnh đạo của Ðảng.
Năm 1931 Ðặng Xuân Thiều bị đày ra Côn Ðảo. Năm 1936 ông ra tù, tiếp tục hoạt động. Cuối năm 1939 lại bị bắt, kết án tù chung thân, lần lượt bị giam ở Hỏa Lò, Bắc Mê, Nghĩa Lộ, Bá Vân. Ở trong các nhà tù, ông tham gia các hoạt động chống chế độ hà khắc, tổ chức huấn luyện, làm thơ ca theo chủ trương của chi ủy nhà tù. Sau khởi nghĩa, trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông công tác trong ngành tư tưởng, văn hóa. Sau hòa bình, ông chuyển về công tác tại Bộ Văn hóa, làm Giám đốc Bảo tàng cách mạng Việt Nam.
Thơ Ðặng Xuân Thiều có nhiều giai đoạn sáng tác khác nhau, ông viết trong nhà tù đế quốc, những bài tiêu biểu như: Bất chợt, Ðêm ngục, Nghiêm Thượng Biền, Vè tướng chuột... Bài thơ trữ tình Hỡi cô đồng chí nhỏ của ông dài hơn 100 câu phảng phất hơi thở của Tỳ bà hành, lời thơ xúc động, mượt mà... nói về một cô gái Hải Phòng mồ côi được ông giác ngộ trở thành người cộng sản: Ðón em ta nhớ một chiều/ Một cô gái nhỏ veo veo đẩy goòng/ Hỡi cô đồng chí tí hon/ Từ nay em đã thành con Người rồi.
Ngoài ra, ông còn có 33 bài thơ viết khi được trả tự do, những bài đặc sắc về nghệ thuật như: Cố hương, Chiều Bạch Ðằng, Tổ quốc khúc hát Bạch Ðằng, Em gái mù, Ngẫm nghĩ, Tiễn đưa... Ngay tên của những bài thơ này đã gợi ít nhiều về một hiện thực Hải Phòng trước cách mạng. Chẳng hạn bài Em gái mù viết về một cô gái nghèo sống bằng nghề hát rong, lang thang đây đó theo các khu chợ, bến đò của Hải Phòng: Tiếng em cao vắt bên đèo/ Trong như hạt móc, nhẹ gieo tơ vàng/Lòng em vời vợi đoạn trường/ Cất lên tiếng hát bi thương thuở nào. Nhà thơ bộc lộ nỗi thương cảm về số phận của con người và tỏ lòng tin tưởng về một ngày mai cách mạng sẽ đổi đời cho cô bé. Bài thơ làm liên tưởng đến Tiếng rao đêm, Tiếng hát sông Hương của Tố Hữu cũng sáng tác trong thời gian này. Thơ Ðặng Xuân Thiều không chỉ là cảm xúc mạnh mẽ của một thanh niên yêu nước, kêu gọi tranh đấu, mà còn là rung cảm sáng tạo, dạt dào thẩm mỹ ngôn từ của một thi sĩ.
Năm 1978, Nhà xuất bản Văn học đã cho ra mắt tập thơ Ðặng Xuân Thiều gồm 68 bài, trong đó có 65 bài viết trước cách mạng. Thơ ông được tuyển trong Tổng tập Văn học Việt Nam của Nhà xuất bản Khoa học xã hội.
Có thể nói, nhà thơ Ðặng Xuân Thiều là một trong những nhà thơ cách mạng của thi ca Việt Nam. Kho tàng thơ ca cách mạng Việt Nam sẽ mãi còn lưu giữ những bài thơ của ông rực lửa đấu tranh cách mạng, khát vọng độc lập dân tộc, đã được truyền tụng khắp các nhà tù thực dân, đế quốc trong những năm 30 của thế kỷ trước.
Vũ Thanh Nhàn
(NXB Chính trị quốc gia - Sự thật)