Thành công và định hướng của chính sách tiền tệ vì ổn định và phát triển kinh tế

Kỳ 1: Những điểm nhấn thành công giai đoạn 2011-2015

NDO -

NDĐT - Về tổng thể, giai đoạn 2011-2015, chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có nhiều chuyển động mới, tích cực trong mục tiêu ổn định và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, với các điểm nhấn thành công nổi bật: Đẩy mạnh tái cơ cấu các tổ chức tín dụng, kiểm soát nợ xấu và sở hữu chéo, cải thiện độ an toàn và lành mạnh hoạt động của các tổ chức tín dụng (TCTD), kiềm chế lạm phát, hạ lãi suất cho vay, ổn định tỷ giá, giảm nhiệt thị trường ngoại hối và nâng cao lòng tin thị trường vào VNĐ và hệ thống các NHTM và TCTD Việt Nam… được Chính phủ và các tổ chức quốc tế ủng hộ và đánh giá cao.

(Ảnh minh họa)
(Ảnh minh họa)

Trong giai đoạn 2011-2015, một loạt giải pháp mới, lần đầu được NHNN triển khai, với cả hai mặt tác động thuận - nghịch đã, đang bộc lộ hoặc cần thời gian sẽ tiếp tục kiểm định thêm, như: NHNN độc quyền nhập khẩu vàng và xiết chặt quản lý thị trường vàng, buộc các NHTM chấm dứt huy động tín dụng và cho vay bằng vàng; mua lại ba NHTM với giá 0 đồng, thúc đẩy quá trình M&A tự nguyện và bắt buộc; đưa lãi suất tiền gửi USD về 0% và không cho vay ngoại tệ đối với các doanh nghiệp chỉ hoạt động thị trường nội địa; triển khai chính sách tỷ giá trung tâm mang tính thị trường đậm nét hơn; linh hoạt mở và áp lại trần lãi suất huy động và cho vay; nâng cấp các tiêu chuẩn quản trị hoạt động NHTM và TCTD theo chuẩn cao và nghiêm ngặt hơn; đồng thời, từng bước minh bạch hơn thông tin chính sách và thị trường.

Một loạt con số thống kê và sự việc khẳng định những thành công nêu trên, cả cấp vĩ mô và vi mô, trong ngành và trên toàn bộ nền kinh tế.

Năm 2011, tỷ lệ lạm phát lên mức 18,13%, lãi suất cho vay lên tới 20 - 25%/năm, lãi suất huy động có lúc vượt 14%/năm; lãi suất liên NH có thời điểm lên đến trên 30%/năm, gây xáo trộn trên thị trường tiền tệ, đời sống nhân dân và hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo áp lực đối với việc thực hiện các mục tiêu ổn định vĩ mô; Tốc độ tăng trưởng tín dụng cao từ 23 - 50% /năm, trong khi quy mô của nhiều NH còn nhỏ, dẫn đến rủi ro tín dụng lớn; tỷ lệ cho vay tập trung vào các lĩnh vực phi sản xuất dẫn đến rủi ro thanh khoản do sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, mất cân đối cơ cấu tín dụng bất động sản và chứng khoán, hiện tượng bong bóng tài sản. Thanh khoản của hệ thống TCTD thiếu hụt nghiêm trọng, tiềm ẩn nguy cơ đổ vỡ hệ thống, các tỷ lệ an toàn vốn của từng NH và toàn hệ thống sụt giảm. Cùng với đó, do việc chạy đua lãi suất giữa các NHTM và áp lực tăng vốn điều lệ - đã gây ra tình trạng thanh khoản mất cân đối, sở hữu chéo và sự lộn xộn mất kiểm soát.

Với nhiều giải pháp quyết liệt kể trên, kết quả, so cùng kỳ năm trước, tính đến đến ngày 21-12-2015, mặt bằng lãi suất giảm khoảng 0,2-0,5%/năm so cuối năm trước (lãi suất ngắn hạn giảm khoảng 0,3%/năm, lãi suất trung và dài hạn giảm khoảng 0,3-0,5%/năm), đưa mặt bằng lãi suất giảm còn khoảng 40% so thời điểm cuối năm 2011 (và thấp hơn mức lãi suất của giai đoạn 2005-2006); lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến ở mức 6-9%/năm; lãi suất cho vay trung và dài hạn ở mức 9-11%/năm; lãi suất cho vay một số chương trình tín dụng ngành, lĩnh vực xuống mức khoảng 6,5-6,6%/năm.

Đặc biệt, các doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh, minh bạch, có phương án/dự án khả thi thì lãi suất vay chỉ còn 5-6%/năm. Cuối năm 2015, lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VNĐ được giữ ổn định; thanh khoản của các TCTD được điều tiết hợp lý, tổng phương tiện thanh toán tăng 13,55%, huy động vốn tăng 13,59%, tạo điều kiện cho các TCTD cải thiện tình hình cung ứng vốn, tăng dư nợ tín dụng 17,17% so với đầu năm, cao hơn mức tăng của cùng kỳ các năm 2011-2014.

Giai đoạn 2011-2015, tín dụng tăng bình quân khoảng 13,5%/năm, thấp hơn rất nhiều so mức tăng bình quân 33,3%/năm của giai đoạn 2006-2010, nhưng phù hợp khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hợp lý. Điều kiện tín dụng được cải thiện, linh hoạt và phù hợp với mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận vốn vay ngân hàng; Đồng thời, cơ cấu tín dụng tiếp tục được cải thiện, hướng mạnh và cân đối hơn vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là các ngành, lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ (cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp nông thôn tăng ước đến tháng 12-2015 tăng 11%, lĩnh vực doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng tháng 10-2015 tăng 45,13%...).

Các chương trình, chính sách tín dụng ngành, lĩnh vực, người nghèo và các đối tượng chính sách khác theo chỉ đạo của Chính phủ,Thủ tướng Chính phủ tiếp tục được hệ thống ngân hàng đẩy mạnh triển khai, mang lại hiệu quả thiết thực cho nền kinh tế và xã hội. Tính đến nay, Ngân hàng chính sách xã hội đã triển khai 19 chuơng trình cho vay với khoảng gần 300 nghìn tỷ đồng, tăng gần 20 lần so với khi mới thành lập cách đây 12 năm. Vốn cho vay tập trung chủ yếu vào sáu chương trình tín dụng là: Cho vay hộ nghèo, học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, hộ gia đình sản xuất kinh doanh vùng khó khăn, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, giải quyết việc làm và cho vay hỗ trợ hộ nghèo làm nhà ở.

Đặc biệt, nợ quá hạn giảm liên tục 24 lần, còn 0,57% so mức 13,75% khi mới thành lập, tức chỉ bằng 1/10 mức trung bình toàn ngành ngân hàng thuơng mại. Hơn 25 triệu lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách đã được vay; hơn 3,2 triệu hộ nghèo vượt qua ngưỡng nghèo; hàng triệu việc làm mới được tạo ra; hơn 4,2 triệu công trình nước sạch và vệ sinh môi trường, cùng hơn nửa triệu căn nhà xã hội được xây dựng nhờ vốn của ngân hàng.

NHNN cũng đã kết thúc thành công và “có hậu” gói tín dụng ưu đãi 30.000 tỷ đồng hỗ trợ mua nhà xã hội sớm hơn kế hoạch hai tháng, vì tính tới ngày 10-3, các NHTM đã cam kết cho vay 30.122 tỷ đồng đối với 46.246 khách hàng và số tiền đã được giải ngân hiện hơn 21.321 tỷ đồng (khoảng 71%). Sự cầu thị của NHNN với tư cách người tổ chức và dẫn dắt chương trình vay ưu đãi này được thể hiện đậm nét ở hai điểm: Thứ nhất, NHNN đã lắng nghe nguyện vọng của người dân, công luận và tín hiệu thị trường… để sớm có nhiều đề nghị và quyết định điều chỉnh, nâng cấp độ ưu đãi cả về thời hạn cho vay, mức cho vay và lãi suất cho vay, cũng như đối tượng thụ hưởng gói vay, nhờ đó đẩy nhanh tiến độ triển khai và kết thúc gói vay ưu đãi sát thời hạn đã được ấn định từ ba năm trước trong Thông tư 11/2013/TT-NHNN ngày 15-5-2013 của NHNN; Thứ hai, NHNN cũng kịp thời nắm bắt nhu cầu và cân nhắc các tác động hai mặt có thể nếu kết thúc gói 30.000 tỷ đồng vào đúng 31-5-2016, và buộc người vay phải chấp nhận giải ngân số tiền còn lại theo các điều kiện lãi suất thương mại, nên ngày 22-3, NHNN đã trình Chính phủ kéo dài chương trình này cho đến khi giải ngân hết.

Đồng thời, tại phiên họp định kỳ Chính phủ ngày 26-3-2016 vừa qua, Thống đốc NHNN một lần nữa ủng hộ ý kiến của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về kéo dài gói hỗ trợ 30.000 tỷ đồng cho tới khi thực hiện xong và đề nghị Thủ tướng cho giải ngân nốt các hợp đồng đã ký theo đúng lãi suất ưu đãi như đã cam kết của gói vay này (tức có sự thay đổi quan điểm so trước đó, khi hướng dẫn các NHTM phải giải ngân số vốn vay sau 31-5 theo lãi suất thương mại hiện hành).

Thực tế, gói tín dụng này cũng được kết thúc có hậu. Theo đó, Chính phủ đã chính thức cho phép giải ngân những khoản vay đã ký theo đúng lãi suất ưu đãi mà người vay đã được hưởng và được cam kết trong hợp đồng vay vốn đã ký.

Chỉ số giá USD tháng 4-2016 giảm 0,79% so tháng 12-2015, cho thấy hiệu quả tích cực của chính sách tỷ giá trung tâm lần đầu được áp dụng từ tháng 1-2016 đến nay. Chỉ số giá vàng tháng 4-2016 tăng 8,12% so tháng 12-2015 là cùng chiều với xu hướng tăng giá vàng thế giới; nhưng điểm mới tích cực là giá vàng trong nước đã thu hẹp rõ rệt mức chênh lệch với giá vàng thế giới, thậm chí nhiều lúc thấp hơn giá vàng thế giới tới vài trăm nghìn đồng, so với mức chênh lệch có lúc tới hơn 4 - 5 triệu đồng/lượng.

Sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách tỷ giá (minh bạch định hướng điều chỉnh tỷ giá, giảm trạng thái ngoại tệ, thu hẹp đối tượng cho vay bằng ngoại tệ, kịp thời mua bán ngoại tệ để can thiệp ổn định thị trường) với chính sách lãi suất và thanh tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm đối với hoạt động kinh doanh ngoại tệ, quản lý ngoại hối và công tác truyền thông đã góp phần trực tiếp và gián tiếp nâng cao niềm tin vào đồng Việt Nam và giữ ổn định tỷ giá và thị trường ngoại tệ trong 5 năm qua; cải thiện đáng kể tình trạng đôla hóa và các cơn sốt nóng trên thị trường ngoại hối trong nền kinh tế, trong khi các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của tổ chức, cá nhân đều được đáp ứng đầy đủ, kịp thời. Dự trữ ngoại hối tăng, có thời điểm tới hơn 35 tỷ USD, cao nhất trong 30 năm qua.

Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD đang được triển khai giai đoạn hai và về cơ bản đã đạt mục tiêu đề ra, giảm số lượng (giảm 20 TCTD) và cải thiện từng bước chất lượng, sức cạnh tranh toàn hệ thống và từng tổ chức thành viên. Các tổ chức tín dụng từng bước áp dụng chuẩn mực quản trị theo thông lệ quốc tế, hiệu quả hoạt động được nâng lên, chất lượng tín dụng được cải thiện; ổn định tâm lý người gửi tiền, nhà đầu tư.

Đến 30-11-2015, khoảng 99,6% nợ xấu của các TCTD ước tính tại thời điểm cuối tháng 9-2012 đã được xử lý và chất lượng tín dụng được cải thiện, nợ xấu toàn hệ thống đã được đưa về mức 2,72%, hoàn thành mục tiêu đề ra 3%. Với việc áp dụng đầy đủ chuẩn mực mới về phân loại nợ, từ Quý I/2015 không còn tồn tại hai số liệu nợ xấu (số liệu theo báo cáo của TCTD và số liệu theo kết quả giám sát của NHNN) và nợ xấu của các TCTD đã được minh bạch hơn.

Hiện, xếp hạng tín nhiệm của các TCTD đang được cải thiện từng bước, với Fitchrating, đã nâng xếp hạng Việt Nam lên mức triển vọng ổn định BB - từ mức B+; Moody’ nâng lên B1; S&P cũng nâng mức xếp hạng lên aaBB+…

Những kết quả đạt được cho thấy, chính sách tiền tệ đã có đóng góp quan trọng trong việc duy trì ổn định và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế đạt trên 6,5% - mức cao nhất 5 năm qua và lạm phát từ mức 18,13% năm 2011, giảm dần xuống 6,81% năm 2012, 6,04% năm 2013, 1,84% năm 2014, và còn 0,6% năm 2015 (lạm phát cơ bản là 2,01%) - là mức thấp nhất trong 14 năm trở lại đây.

* Kỳ 2: Định hướng và triển vọng chính sách tiền tệ giai đoạn 2016-2020