Ban Kinh tế

Sau hơn một năm triển khai Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Nghị quyết 70-NQ/TW), công tác hoàn thiện thể chế, chính sách đã có những chuyển động quan trọng, tạo nền tảng thúc đẩy ngành năng lượng phát triển trong giai đoạn mới.

Việc cụ thể hóa Nghị quyết 70-NQ/TW và Chương trình hành động của Chính phủ tại Nghị quyết số 328/NQ-CP đang từng bước chuyển thành nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, đẩy mạnh triển khai trong thực tiễn với quyết tâm bảo đảm an ninh năng lượng.

Cùng với đó, định hướng đa dạng hóa nguồn cung, phát triển năng lượng tái tạo, điện mặt trời mái nhà, hệ thống lưu trữ năng lượng và sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả cũng ngày càng được chú trọng.

Sản Lượng Điện & Cơ cấu điện (Giai đoạn 2016 - 2025)

1. Miền bắc

Sản lượng điện sản xuất tăng trung bình khoảng 6,3%/năm từ 89 tỷ kWh năm 2016 lên 154 tỷ kWh năm 2025. Nguồn điện chủ yếu là nhiệt điện than và thủy điện, chiếm khoảng 94% cơ cấu tổng sản lượng toàn miền.

Sản lượng (2016 ➔ 2025):
89 tỷ kWh

2. Miền trung

Sản lượng điện sản xuất tăng trung bình 15%/năm từ 20 tỷ kWh năm 2016 lên trên 70 tỷ kWh năm 2025. Thủy điện chiếm khoảng 48%, năng lượng tái tạo chiếm 33%. Miền Trung có xu hướng thừa điện do phụ tải thấp, phải truyền tải đi miền khác.

Sản lượng (2016 ➔ 2025):
20 tỷ kWh

3. Miền nam

Sản lượng điện sản xuất tăng trung bình khoảng 5,5%/năm, đạt khoảng 167 tỷ kWh vào năm 2025. Nguồn than & khí chiếm 62%, năng lượng tái tạo chiếm 24%. Miền nam luôn thiếu điện nội miền, phải nhận điện truyền tải từ miền trung.

Sản lượng năm 2025:
100 tỷ kWh

NGHỊ QUYẾT 70-NQ/TW ĐẶT MỤC TIÊU ĐẾN NĂM 2030:

  1. Tổng cung năng lượng sơ cấp đạt khoảng 150-170 triệu tấn dầu quy đổi; tổng công suất các nguồn điện đạt khoảng 183-236GW; tổng sản lượng điện đạt khoảng 560-624 tỷ kWh. Trong đó, tỷ lệ năng lượng tái tạo khoảng 25-30%.

  2. Tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng đạt khoảng 120-130 triệu tấn dầu quy đổi.

  3. Phát triển hệ thống điện thông minh, hiệu quả, có khả năng kết nối an toàn với lưới điện khu vực; bảo đảm cung cấp điện an toàn, đáp ứng tiêu chí N-1 đối với vùng phụ tải quan trọng và N-2 đối với vùng phụ tải đặc biệt quan trọng. Độ tin cậy cung cấp điện và chỉ số tiếp cận điện năng thuộc top 3 nước dẫn đầu ASEAN.

  4. Các cơ sở lọc dầu đáp ứng tối thiểu 70% nhu cầu xăng dầu trong nước; mức dự trữ xăng dầu đạt khoảng 90 ngày nhập ròng. Phát triển cơ sở đủ năng lực nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) theo nhu cầu của các nguồn điện khí LNG và các nhu cầu khác; hình thành các trung tâm năng lượng tập trung khí LNG hài hòa giữa các vùng, miền.

  5. Tỷ lệ tiết kiệm năng lượng trên tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng, so với kịch bản phát triển bình thường, đạt khoảng 8-10%.

  6. <
  7. Giảm phát thải khí nhà kính từ hoạt động năng lượng khoảng 15-35% so với kịch bản phát triển bình thường.

Nghị quyết 70-NQ/TW

NĂNG LƯỢNG PHẢI ĐI TRƯỚC MỘT BƯỚC

Là quốc gia nhập khẩu ròng năng lượng từ năm 2015, Việt Nam đang nỗ lực nâng cao mức độ tự chủ, giảm phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài và khai thác hiệu quả hơn các nguồn năng lượng trong nước. Trong bối cảnh đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao giai đoạn 2026-2030, bài toán không chỉ nằm ở sản lượng điện mà còn liên quan đến cơ cấu nguồn, năng lực truyền tải, khả năng huy động vốn, công nghệ và hiệu quả sử dụng năng lượng

TĂNG TRƯỞNG PHỤ TẢI TOÀN QUỐC
GIAI ĐOẠN 2021-2025:
0
%
Do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 và tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu.
Thấp hơn so với giai đoạn 2016-2020, lần lượt là 8,6%/năm và 8,0%/năm.
Nguồn: Viện Năng lượng

Thực tế vận hành hệ thống điện cho thấy áp lực này ngày càng rõ. Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống tháng 9/2026 đạt 29,97 tỷ kWh, tăng 9,2% so với cùng kỳ. Lũy kế chín tháng năm 2026, sản lượng đạt 265,79 tỷ kWh, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước.

Công suất cực đại của hệ thống điện quốc gia đạt khoảng 58.500MW trong đợt nắng nóng cao điểm cuối tháng 6; riêng miền bắc đạt 30.200MW, với tốc độ tăng trưởng phụ tải đỉnh hơn 14,4%. Theo tính toán của Công ty Vận hành hệ thống điện và Thị trường điện quốc gia (NSMO), công suất đỉnh toàn quốc có thể tiệm cận 100.000-110.000MW vào năm 2030 nếu duy trì đà tăng trưởng hiện nay.

Kỷ lục mới ngày 25/06/2026

Đỉnh điểm nắng nóng: Phụ tải điện Quốc gia và Miền bắc xác lập kỷ lục

Ghi nhận mức tiêu thụ và công suất cực đại cao nhất năm 2026

⚡ Hệ thống điện Quốc gia

Công suất cực đại: 57.838 MW (13h40)

Sản lượng tiêu thụ: 1,222 tỷ kWh

📈 Tăng 19% so với cùng kỳ 2025

⚡ Hệ thống điện Miền bắc

Công suất cực đại: 30.248 MW (22h20)

Sản lượng tiêu thụ: 646 triệu kWh

📈 Tăng 20,9% sản lượng so với cùng kỳ 2025

Những số liệu này cho thấy yêu cầu đặt ra đối với việc triển khai Nghị quyết 70-NQ/TW không chỉ là xây dựng thêm nguồn điện, mà còn phải bảo đảm nguồn cung đủ, vận hành ổn định, phát triển hạ tầng đồng bộ và sử dụng năng lượng hiệu quả. Trong khi đó, tiến độ của các dự án nguồn điện quy mô lớn thường kéo dài nhiều năm; khả năng đáp ứng nhu cầu trong tương lai vì thế phụ thuộc đáng kể vào việc chuẩn bị và triển khai dự án ngay từ hiện tại.

Tại cuộc họp định kỳ rà soát kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết 328/NQ-CP của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 70-NQ/TW vào tháng 7/2026, Thứ trưởng Công thương Nguyễn Hoàng Long nhấn mạnh: “Nghị quyết 70-NQ/TW có ý nghĩa hết sức quan trọng, mang tầm chiến lược đối với sự phát triển của đất nước. Chính vì vậy, việc triển khai thực hiện nghị quyết này đang được tiến hành rất quyết liệt, rất nghiêm túc”.

“Bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị. Các dự án năng lượng, các dự án nguồn điện và lưới điện không phải là những dự án mà chỉ một bộ, ngành có thể tự quyết định hoặc tự triển khai. Để thực hiện được, cần có sự phối hợp đồng bộ của nhiều giải pháp thuộc chức năng, nhiệm vụ của nhiều bộ, ngành; đồng thời, vai trò của chính quyền địa phương là hết sức quan trọng” Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Long nêu rõ.

Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Hoàng Long chủ trì cuộc họp định kỳ rà soát kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết 328/NQ-CP của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 của Bộ Công thương tổ chức tháng 7/2026. (Ảnh: Báo Công thương)

Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Hoàng Long chủ trì cuộc họp định kỳ rà soát kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết 328/NQ-CP của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 của Bộ Công thương tổ chức tháng 7/2026. (Ảnh: Báo Công thương)

Cũng theo cập nhật của Bộ Công thương đến ngày 30/6/2026, để thực hiện Nghị quyết 70-NQ/TW và Nghị quyết 328/NQ-CP đã có: 21/22 bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đã ban hành văn bản chương trình/kế hoạch thực hiện; 34/34 tỉnh, thành phố đã ban hành văn bản chương trình/kế hoạch thực hiện; 5/5 doanh nghiệp trong lĩnh vực năng lượng đã ban hành văn bản chương trình/kế hoạch thực hiện.  

Trong tổng số 118 nhiệm vụ được Chính phủ giao tại Nghị quyết số 328/NQ-CP: 25 nhiệm vụ đã hoàn thành xuất sắc; 89 nhiệm vụ đang triển khai đúng tiến độ và chỉ còn 04 nhiệm vụ đang bị chậm so với thời hạn yêu cầu.

Thông tin về việc triển khai thực hiện Nghị quyết 70-NQ/TW và Nghị quyết 328/NQ-CP.

Thông tin về việc triển khai thực hiện Nghị quyết 70-NQ/TW và Nghị quyết 328/NQ-CP.

Nhà máy Nhiệt điện Ô Môn I. (Ảnh: EVN)

Nhà máy Nhiệt điện Ô Môn I. (Ảnh: EVN)

Điều này cho thấy Nghị quyết số 70-NQ/TW đã nhanh chóng được cụ thể hóa thành nhiệm vụ tại từng ngành, địa phương và doanh nghiệp chủ lực. Đây là điều kiện quan trọng, bởi an ninh năng lượng không thể chỉ được bảo đảm bằng một vài dự án nguồn điện hay một số cơ chế giá, mà đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ từ quy hoạch, đầu tư, tài chính, đất đai, môi trường, công nghệ đến quản trị vận hành.

Nghị quyết số 70-NQ/TW đã đặt ra định hướng quan trọng cho quá trình này. Sau hơn một năm triển khai, vấn đề cần nhìn nhận không chỉ là các cơ chế, chính sách đã được ban hành đến đâu, mà quan trọng hơn là khó khăn, vướng mắc cụ thể trong thực tế đã được nêu ra, từ đó có các kiến nghị, giải pháp thiết thực, khả thi, gắn với trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị.

ĐA DẠNG HOÁ NGUỒN CUNG, CỦNG CỐ LƯỚI ĐIỆN

Điện năng là đầu vào thiết yếu của sản xuất, kinh doanh và đời sống. Khi nền kinh tế đặt mục tiêu tăng trưởng cao, yêu cầu bảo đảm cung ứng điện càng trở nên cấp thiết. Một trong những nhóm nhiệm vụ trọng tâm của Nghị quyết 70-NQ/TW là phát triển nguồn cung và hạ tầng năng lượng, đa dạng hóa nguồn cung, chủ động khai thác các nguồn năng lượng trong nước và nâng cao độ tin cậy của hệ thống. Với lĩnh vực điện, kết quả triển khai cần được nhìn nhận từ cả hai phía: nguồn điện mới và năng lực truyền tải, phân phối điện

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng chủ trì cuộc họp với các bộ ngành, cơ quan về bảo đảm cung ứng điện trong thời gian tới, đến năm 2030 và định hướng điều chỉnh Quy hoạch điện VIII ngày 12/10. (Ảnh: THANH GIANG)

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng chủ trì cuộc họp với các bộ ngành, cơ quan về bảo đảm cung ứng điện trong thời gian tới, đến năm 2030 và định hướng điều chỉnh Quy hoạch điện VIII ngày 12/10. (Ảnh: THANH GIANG)

Tại văn bản kết luận cuộc họp ngày 12/10/2026 về bảo đảm cung ứng điện trong thời gian tới, định hướng đến năm 2030 và cập nhật Quy hoạch điện VIII, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh mục tiêu phát triển đất nước nhanh, bền vững, với tốc độ tăng trưởng bình quân từ 10% trở lên. Bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia, cung ứng đủ điện được xác định là một trong những yếu tố nền tảng, quyết định việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, nhất là trong bối cảnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Toàn cảnh dự án Nhiệt điện Quảng Trạch I. (Ảnh: EVN)

Toàn cảnh dự án Nhiệt điện Quảng Trạch I. (Ảnh: EVN)

Bảo đảm đủ điện cho phát triển kinh tế - xã hội đồng thời giảm phát thải là yêu cầu xuyên suốt của Nghị quyết số 70-NQ/TW. Theo định hướng này, năng lượng tái tạo, năng lượng mới và năng lượng sạch được ưu tiên phát triển, cùng với lộ trình khai thác hợp lý năng lượng hóa thạch, phát triển điện khí, điện hạt nhân và giảm dần tỷ trọng điện than phù hợp với điều kiện thực tế.

Việc khởi công Nhà máy Nhiệt điện LNG Quảng Trạch II tại Trung tâm Điện lực Quảng Trạch, tỉnh Quảng Trị, ngày 20/10/2026 là một ví dụ cụ thể về quá trình hiện thực hóa định hướng phát triển nguồn điện. Dự án có công suất 1.612,8MW, tổng mức đầu tư hơn 40.123 tỷ đồng, sử dụng công nghệ tua-bin khí chu trình hỗn hợp. Theo tiến độ dự kiến, tổ máy số 1 phát điện thương mại vào tháng 2/2030 và tổ máy số 2 vào tháng 4/2030.

Bên cạnh đó, Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch I đã phát điện lên lưới quốc gia, với sản lượng là 620 triệu kWh.

Đây là hai trong ba dự án điện thuộc Trung tâm Điện lực Quảng Trạch, được quy hoạch gồm Quảng Trạch I, II và III. Việc đầu tư các dự án tại đây không chỉ góp phần bổ sung công suất mà còn đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ với hệ thống truyền tải để đưa điện đến các khu vực phụ tải.

Ông Bùi Hoàng Phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị cho biết: Trung tâm Điện lực Quảng Trạch được quy hoạch gồm ba nhà máy Quảng Trạch I, II và III, hình thành tổ hợp sản xuất điện có tổng công suất hơn 4.500MW. Việc đầu tư và vận hành đồng bộ trung tâm điện lực này sẽ góp phần cụ thể hóa Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Khởi công Dự án Nhiệt điện Quảng Trạch II. (Ảnh: EVN)

Khởi công Dự án Nhiệt điện Quảng Trạch II. (Ảnh: EVN)

Khu vực cảng than của Dự án Nhiệt điện Quảng Trạch I. (Ảnh: EVN)

Khu vực cảng than của Dự án Nhiệt điện Quảng Trạch I. (Ảnh: EVN)

Ông Bùi Hoàng Phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị. (Ảnh: EVN)

Ông Bùi Hoàng Phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị. (Ảnh: EVN)

Ông Bùi Hoàng Phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị. (Clip: LÊ CHI)

Ông Bùi Hoàng Phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị. (Clip: LÊ CHI)

Cán bộ truyền tải điện thực hiện nhiều giải pháp vận hành an toàn lưới điện Quốc gia trong điều kiện thời tiết nắng nóng gay gắt, bảo đảm cấp điện cao điểm mùa khô và tăng trưởng “2 con số” năm 2026. (Ảnh: EVN)

Cán bộ truyền tải điện thực hiện nhiều giải pháp vận hành an toàn lưới điện Quốc gia trong điều kiện thời tiết nắng nóng gay gắt, bảo đảm cấp điện cao điểm mùa khô và tăng trưởng “2 con số” năm 2026. (Ảnh: EVN)

Yêu cầu phát triển đồng bộ nguồn và lưới điện còn thể hiện qua khối lượng công trình truyền tải được triển khai trong năm 2026. Theo báo cáo của EVN, trong chín tháng năm 2026, EVN và các đơn vị đã khởi công 136 công trình lưới điện, gồm 2 công trình 500 kV, 18 công trình 220 kV và 116 công trình 110 kV; đồng thời đóng điện 131 công trình, gồm 5 công trình 500 kV, 16 công trình 220 kV và 110 công trình 110 kV.

Trong 9 tháng năm 2026, Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã triển khai nhiều dự án đầu tư cho lưới điện truyền tải.

Trong 9 tháng năm 2026, Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã triển khai nhiều dự án đầu tư cho lưới điện truyền tải.

Ông Huỳnh Quang Thịnh, Phó Giám đốc Công ty Truyền tải điện 3 (PTC3) cho biết: nhu cầu điện tại các tỉnh miền bắc, miền trung và Tây Nguyên tăng cao trong những tháng cao điểm mùa khô năm 2026. Trong đó, lưới truyền tải điện 500 kV đóng vai trò quan trọng trong liên kết hệ thống; một sự cố có thể ảnh hưởng trên phạm vi rộng. Vì vậy, đơn vị đã phối hợp với chủ đầu tư các nhà máy năng lượng tái tạo và cơ quan chức năng địa phương rà soát phương thức vận hành, kế hoạch cắt điện, bảo trì, bảo dưỡng và phân định trách nhiệm giữa các bên.

Thực tế này cho thấy phát triển nguồn điện cần đi đôi với đầu tư lưới truyền tải, phân phối và nâng cao năng lực điều độ. Nếu nguồn điện mới được đưa vào vận hành nhưng lưới điện chưa đáp ứng khả năng đấu nối, giải tỏa công suất, hiệu quả đầu tư và khả năng khai thác nguồn điện đều bị ảnh hưởng.

THỂ CHẾ PHẢI MỞ ĐƯỜNG CHO PHÁT TRIỂN NGUỒN VÀ LƯỚI ĐIỆN

Nghị quyết số 70-NQ/TW xác định hoàn thiện thể chế, chính sách là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm tháo gỡ điểm nghẽn, huy động nguồn lực và thúc đẩy phát triển năng lượng. Đây là điều kiện quan trọng, bởi tiến độ dự án không chỉ phụ thuộc vào vốn đầu tư và năng lực thi công mà còn liên quan đến quy hoạch, thủ tục, cơ chế huy động vốn và sự phối hợp giữa các cơ quan.

Tại cuộc họp báo thường kỳ quý III/2026 của Bộ Công thương, ông Bùi Quốc Hùng, Phó Cục trưởng Cục Điện lực cho biết: việc hoàn thiện thể chế nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 70-NQ/TW đang tiếp tục được triển khai, trong đó có rà soát, sửa đổi các quy định liên quan đến lĩnh vực điện lực. Đây là bước cần thiết, nhưng hiệu quả cuối cùng phải được đo bằng khả năng chuyển chính sách thành dự án thực tế: vướng mắc nào đã được tháo gỡ, thủ tục nào được rút ngắn, công trình nào được đẩy nhanh tiến độ và nguồn lực nào được huy động thêm.

Ông Bùi Quốc Hùng, Phó Cục trưởng Cục Điện lực, Bộ Công thương phát biểu tại Họp báo thường kỳ quý III/2026 của Bộ Công thương. (Ảnh: Báo Công thương)

Ông Bùi Quốc Hùng, Phó Cục trưởng Cục Điện lực, Bộ Công thương phát biểu tại Họp báo thường kỳ quý III/2026 của Bộ Công thương. (Ảnh: Báo Công thương)

Với các dự án năng lượng có thời gian chuẩn bị và đầu tư kéo dài, sự đồng bộ giữa quy hoạch, cơ chế thực hiện, nguồn vốn và hạ tầng đấu nối có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nếu chính sách được hoàn thiện nhưng dự án vẫn chậm triển khai, hoặc nguồn điện được đầu tư mà lưới điện chưa theo kịp, mục tiêu bảo đảm cung ứng điện sẽ khó đạt hiệu quả như kỳ vọng.

Vì vậy, việc đánh giá quá trình thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW cần gắn với những kết quả có thể kiểm chứng, thay vì chỉ dừng ở số lượng văn bản đã ban hành. Đây cũng là cơ sở để nhận diện đúng những khâu còn ách tắc, từ đó tập trung nguồn lực và trách nhiệm thực hiện.

Nhà máy Nhiệt điện Uông Bí. (Ảnh: EVN)

Nhà máy Nhiệt điện Uông Bí. (Ảnh: EVN)

Tăng cường kiểm tra lưới điện truyền tải. (Ảnh: EVN)

Tăng cường kiểm tra lưới điện truyền tải. (Ảnh: EVN)

TỰ CHỦ NĂNG LƯỢNG TỪ TỪNG MÁI NHÀ, TỪNG KWH ĐIỆN

Bên cạnh các dự án nguồn điện quy mô lớn, Nghị quyết số 70, Nghị quyết số 70-NQ/TW cũng đặt ra yêu cầu thúc đẩy điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ, phát triển hệ thống lưu trữ năng lượng và sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả. Những giải pháp này có thể góp phần đa dạng hóa nguồn cung, đáp ứng một phần nhu cầu ngay tại nơi tiêu thụ và giảm áp lực cho hệ thống trong những thời điểm phù hợp.

Ông Nguyễn Quốc Trung, Phó Tổng Giám đốc Công ty Vận hành Hệ thống điện và Thị trường điện quốc gia (NSMO). (Ảnh: LÊ CHI)

Ông Nguyễn Quốc Trung, Phó Tổng Giám đốc Công ty Vận hành Hệ thống điện và Thị trường điện quốc gia (NSMO). (Ảnh: LÊ CHI)

Ông Nguyễn Quốc Trung, Phó Tổng Giám đốc NSMO cho rằng: điện mặt trời mái nhà có ưu thế về thời gian triển khai và góp phần tăng tính chủ động của nguồn cung tại chỗ. Trong khi việc đầu tư một nhà máy nhiệt điện tua-bin khí có thể kéo dài nhiều năm, hệ thống điện mặt trời mái nhà ở quy mô hộ gia đình có thể được lắp đặt nhanh hơn đáng kể. Nguồn điện này cũng ít chịu tác động trực tiếp từ biến động nguồn cung nhiên liệu trên thị trường quốc tế so với các nguồn điện sử dụng than, dầu và khí.

Thống kê số liệu về hệ thống lưu trữ năng lượng tại miền bắc.

Thống kê số liệu về hệ thống lưu trữ năng lượng tại miền bắc.

Dù vậy, điện mặt trời phụ thuộc vào bức xạ và thời tiết, trong khi nhu cầu điện có thể tăng mạnh vào buổi tối. Phát triển nguồn điện phân tán do đó cần được tính toán cùng yêu cầu vận hành hệ thống, các giải pháp quản lý phụ tải và công nghệ lưu trữ.

Hệ thống điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu sẽ hỗ trợ hệ thống điện được vận hành an toàn, ổn định.

Hệ thống điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu sẽ hỗ trợ hệ thống điện được vận hành an toàn, ổn định.

Chuyên gia năng lượng Hà Đăng Sơn, Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và tăng trưởng xanh cũng nhấn mạnh vai trò kết hợp giữa tiết kiệm điện, phát triển điện mặt trời mái nhà và pin lưu trữ năng lượng (BESS). Theo ông, đây là những giải pháp có ý nghĩa trong giai đoạn 2026-2027, góp phần nâng cao khả năng chủ động nguồn điện tại chỗ và hỗ trợ vận hành hệ thống an toàn.

Tiết kiệm điện cũng là một phần quan trọng của bài toán tự chủ năng lượng. Lượng điện tiết kiệm được nhờ cải thiện hiệu suất thiết bị, điều chỉnh giờ sử dụng hoặc quản lý phụ tải sẽ góp phần giảm áp lực phải bổ sung nguồn cung mới. Tuy nhiên, tiết kiệm điện không thể thay thế đầu tư nguồn và lưới điện; đây là giải pháp cần được triển khai đồng thời nhằm sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực năng lượng.

Hiệu quả của các giải pháp này còn thể hiện qua thực tiễn doanh nghiệp. Tại Famiana Resort & Spa ở Phú Quốc, ông Nguyễn Văn Đồng, Giám đốc Công ty TNHH Phương Anh Đức cho biết: cơ sở nghỉ dưỡng quy mô 100 phòng đã lắp đặt hệ thống điện mặt trời mái nhà công suất hơn 70kWp để tự sản xuất, tự tiêu thụ. Cùng với việc chuyển một số hoạt động như giặt là sang giờ thấp điểm, hệ thống giúp cơ sở giảm khoảng 30% tiền điện; thời gian thu hồi vốn đầu tư theo tính toán của doanh nghiệp vào khoảng 4-5 năm.

Theo ông Đồng, việc điều chỉnh thời gian sử dụng điện và đầu tư điện mặt trời xuất phát từ nhu cầu tiết giảm chi phí vận hành. Đây là ví dụ cho thấy hiệu quả kinh tế có thể tạo động lực để doanh nghiệp chủ động sử dụng năng lượng tiết kiệm hơn.

Có thể thấy, tự chủ năng lượng không nhất thiết bắt đầu từ những dự án quy mô lớn. Với doanh nghiệp, chủ động nguồn điện tại chỗ và điều chỉnh cách sử dụng điện có thể giúp giảm chi phí vận hành, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Khi được nhân rộng phù hợp với điều kiện thực tế, những giải pháp này cũng góp phần giảm áp lực cho hệ thống điện.

Hệ thống điện mặt trời mái nhà giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí sử dụng điện. (Ảnh: LÊ CHI)

Hệ thống điện mặt trời mái nhà giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí sử dụng điện. (Ảnh: LÊ CHI)

TỪ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN THỰC TIỄN

Nghị quyết số 70-NQ/TW đặt ra yêu cầu nâng cao mức độ tự chủ năng lượng, bảo đảm cung ứng ổn định và đáp ứng yêu cầu phát triển dài hạn. Sau hơn một năm kể từ khi Nghị quyết được ban hành, những số liệu tại các dự án nguồn điện, truyền tải và giải pháp năng lượng tại chỗ cho thấy các định hướng bảo đảm an ninh năng lượng đang từng bước được cụ thể hóa.

Trong lĩnh vực điện, mục tiêu này đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều nhóm giải pháp: đa dạng hóa nguồn cung, đẩy nhanh các dự án nguồn và lưới, hoàn thiện cơ chế đầu tư, phát triển nguồn năng lượng tại chỗ và sử dụng điện hiệu quả.

Ông Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam cho biết: Nghị quyết 70-NQ/TW là định hướng chung quan trọng nhưng “đây mới là các điều kiện cần, còn điều kiện đủ để các dự án có thể ra được quyết định đầu tư cuối cùng (FID) vẫn còn một khoảng cách lớn”, nhất là chưa có cơ chế phân bổ rủi ro của từng chủ thể trong chuỗi dự án.

Cùng quan điểm này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Trí Long khẳng định “nút thắt then chốt chính là thể chế và thiết kế thị trường, không phải công nghệ hay vốn. Thực tế vài năm qua cho thấy, các dự án chậm chủ yếu do cơ chế giá, hợp đồng mua bán, quy trình cấp phép - đấu nối và rủi ro pháp lý”.

Các chuyên gia năng lượng cũng khẳng định: cần làm rõ khoảng cách giữa mục tiêu, kế hoạch và kết quả thực hiện; xác định những dự án đã đi vào vận hành, những công trình còn vướng mắc và những cơ chế đã tạo ra thay đổi cụ thể. Đây là cơ sở quan trọng để nhận diện đúng hiệu quả triển khai Nghị quyết số 70-NQ/TW, đồng thời xác định những nhiệm vụ cần ưu tiên trong giai đoạn tiếp theo.

Khi nguồn điện, lưới điện, thể chế và hiệu quả sử dụng được triển khai đồng bộ, năng lượng mới thực sự trở thành nền tảng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng hai con số gắn với chuyển đổi xanh.

Chỉ đạo sản xuất: Nguyễn Thị Thu Hà
Tổ chức sản xuất: Hà Thanh Giang
Nội dung: Lê Chi
Ảnh: Lê Chi, EVN, Báo Công thương
Trình bày: Lê Chi
Bài có sử dụng sự hỗ trợ của AI trong thiết kế