An Giang thực hiện chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa (NSHH) thông qua hợp đồng theo từng bước khá bài bản, đem lại hiệu quả thiết thực. Bước một, UBND tỉnh chỉ đạo ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN-PTNN) chủ động phối hợp các ngành, các cấp tổ chức nhiều hội thảo với lãnh đạo các DN nhà nước trong và ngoài tỉnh để bàn và thống nhất các đối tượng, phương thức và những loại sản phẩm hàng hóa (SPHH) cần tiêu thụ thông qua hợp đồng. Bước hai, xây dựng kế hoạch tiêu thụ SPHH đối với từng vụ sản xuất. Bước ba, quy hoạch vùng sản xuất nông sản hàng hóa tập trung, với quy mô phù hợp lợi thế về đất đai, khí hậu, tập quán canh tác từng nơi; đồng thời bố trí các tổ hợp tác, HTX, hộ nông dân, xã viên, các trang trại sản xuất theo đơn đặt hàng của DN.
Dựa trên nội dung hợp đồng nêu trên, từ năm 2002 đến nay, tỉnh An Giang đã thực hiện đồng bộ sáu phương thức hợp đồng (PTHÐ) tiêu thụ SPHH cho nông dân. Mỗi phương thức có hợp đồng riêng, quy định rõ các điều kiện để ràng buộc quyền và nghĩa vụ gắn với lợi ích giữa các đối tượng tham gia. Trong thực tế, chúng tôi thấy có hai PTHÐ được thực hiện phổ biến. Thứ nhất, PTHÐ tiêu thụ SPHH với giá sàn tối thiểu và có điều chỉnh theo sự biến động giá cả trên thị trường theo hướng có lợi cho nông dân.
Cụ thể là tại thời điểm thu mua, giá sản phẩm thị trường cao hơn giá sàn, DN mua theo giá thỏa thuận. Ngược lại, nếu thấp hơn thì mua theo giá sàn. Thứ hai, PTHÐ đầu tư ứng trước vốn, vật tư, kỹ thuật cho sản xuất và bao tiêu sản phẩm với giá cố định theo nguyên tắc được cùng ăn, thua cùng chịu. DN sau khi thu gom sản phẩm đưa đi tiêu thụ trong nước hoặc xuất khẩu với giá cao hoặc thấp hơn so giá quy định, phần chênh lệch lãi hai bên cùng hưởng; lỗ cùng chia sẻ rủi ro. Nhìn chung PTHÐ này thường được áp dụng, thu được kết quả tốt đối với những sản phẩm có tính "đặc thù", có thị trường tiêu thụ ổn định, giá ít biến động. Chẳng hạn như lúa gạo Jasmine của Nhật Bản, bắp trái non, bắp lai làm giống, mè trắng V6, khoai mì công nghiệp,...
Trước đây, hình thức thu gom nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến hoặc xuất khẩu, số đông các DN đều hợp đồng với lực lượng thương lái. Làm như thế, cả DN và người sản xuất phải phụ thuộc thương lái, rất bị động và thường thua thiệt do bị ép cấp, ép giá. Khắc phục tình trạng này, những năm gần đây, An Giang tiến hành tổ chức lại khâu tiêu thụ bằng việc DN hỗ trợ HTX về vốn, cung ứng giống cây, giống con, hướng dẫn quy trình kỹ thuật, thâm canh và mua lại SPHH theo hợp đồng. Trên cơ sở đó, HTX làm các dịch vụ đầu vào, đầu ra phục vụ quá trình sản xuất của từng hộ thành viên tham gia hợp đồng. Cách làm này đã giúp doanh nghiệp tiết kiệm đáng kể chi phí quản lý, nhất là chi phí trong khâu giao dịch ký hợp đồng, DN có điều kiện chủ động xây dựng vùng nguyên liệu ổn định, đi vào thâm canh, tăng năng suất, chất lượng nguyên liệu.
Lợi ích của DN là vậy. Thế còn HTX được gì? Ðến HTX Hòa Thuận, huyện Chợ Mới, chúng tôi được ông Nguyễn Văn Ðảm, Chủ nhiệm HTX cho hay: Qua ba năm (2002 - 2005), HTX và doanh nghiệp Antes Co gắn bó bên nhau, thực hiện hợp đồng sản xuất, tiêu thụ bắp trái non. Mọi việc diễn ra khá suôn sẻ. Diện tích gieo trồng bắp trái non hằng năm tăng đều, từ gần 50 ha năm 2003 đến nay đã tăng lên 150 ha. Sản xuất, tiêu thụ bắp trái non thông qua hợp đồng đã góp phần nâng tổng mức doanh thu của HTX từ 976 triệu đồng năm 2002 (riêng doanh thu bắp trái non khoảng 555 triệu đồng), tăng lên gần 1,3 tỷ đồng năm 2003 và 1,9 tỷ đồng năm 2004. Ngoài ra, Hòa Thuận còn tổ chức dịch vụ bao tiêu sản phẩm rau an toàn cho các hộ xã viên, nông dân với giá tăng khoảng 50-100 đồng/kg so với thị trường. Sáu tháng đầu năm 2005, HTX đã tiêu thụ hơn 10 tấn rau các loại, thu lãi hàng triệu đồng. Như vậy, thông qua việc ký hợp đồng theo phương thức nêu trên, kinh tế của tập thể và của hộ xã viên đều tăng trưởng khá, tổ chức HTX được củng cố và phát triển. Từ kết quả này đã đem lại cho Hòa Thuận niềm vui mới. Tháng 7 vừa rồi, một số hộ nông dân ở ấp Mỹ Hòa đã tự nguyện viết đơn, xin góp vốn tham gia HTX.
Vượt sông Tiền, chúng tôi sang thăm HTX Tân Mỹ Hưng của huyện Phú Tân, cùng tỉnh. Ðây là mô hình HTX kiểu mới rất năng động trong việc tổ chức sản xuất, tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng. HTX Tân Mỹ Hưng có 260 hộ thành viên, với 645 ha đất chuyên canh lúa ba vụ/năm, phân bổ ở chín ấp của ba xã: Tân Hòa, Phú Hưng và thị trấn Phú Mỹ, đều nằm trong vùng chữ O, phía đông kênh trường học của huyện Phú Tân. Thực hiện Quyết định 80, từ vụ lúa đông xuân năm 2002 đến nay, HTX từng bước phát huy vai trò "cầu nối" giữa nhà DN và nhà sản xuất. HTX ký hợp đồng sản xuất, tiêu thụ lúa nếp đặc sản với hai DN nhà nước: Công ty lương thực Bình Ðịnh và Công ty xuất nhập khẩu (XNK) nông sản An Giang với diện tích 300 - 500 ha và sản lượng 2.100 - 3.500 tấn/mỗi năm. Mặc dù đầu năm, đầu vụ sản xuất, DN và HTX cam kết mua thóc nếp theo giá sàn với mức 1.500 đồng/kg, cao hơn so giá thành khoảng 400 - 600 đồng/kg. Nhưng thực tế do giá vật tư, xăng dầu, phân bón tăng, kéo giá thành sản phẩm tăng theo, DN thống nhất với HTX mua với giá thỏa thuận theo từng thời điểm giao hàng. Vụ lúa đông xuân 2004 - 2005 vừa qua, công ty ký hợp đồng tiêu thụ lúa của HTX Tân Mỹ Hưng với giá sàn 1.800 đồng/kg, thực tế, có thời điểm công ty đã mua với giá 2.800 đồng/kg. Ðể bảo đảm thực hiện hợp đồng, ngoài việc chỉ đạo các thành viên sản xuất, giao nộp sản phẩm theo hợp đồng, Tân Mỹ Hưng còn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật làm dịch vụ cho việc thu gom, chế biến và bảo quản sản phẩm cho xã viên. Bằng các nguồn vốn huy động, HTX đã xây dựng được 900 m2 nhà kho, sức chứa 1.500 tấn thóc; xây dựng hai lò sấy lúa, công suất 16 tấn lúa/mẻ/25 giờ. Năm 2004, Tân Mỹ Hưng đầu tư xây dựng thêm một nhà máy sấy mới, công suất khoảng 32 tấn lúa/mẻ/20 giờ và một dây chuyền xay xát lúa, công suất hai tấn gạo/giờ. Ngoài ra, HTX còn ký hợp đồng trách nhiệm với Công ty XNK nông sản An Giang tiêu thụ 500 tấn gạo nếp đặc sản, với giá 3.600-3.620 đồng/kg. Ðến cuối tháng 7 vừa qua, HTX đã giao cho công ty 700 tấn, vượt 200 tấn so quy định ghi trong hợp đồng. Hiện nay, Tân Mỹ Hưng đang xúc tiến xây dựng thương hiệu cho sản phẩm nếp đặc sản, tiếp tục tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm này.
Các HTX khác như: Trường Thạnh, Ðức Thành, Bình Thạnh, Hưng Phát, Bình Mỹ, Hiệp Phú... cũng đã ký hợp đồng với các DN, tiến hành sản xuất, tiêu thụ hàng nghìn tấn lương thực, rau màu thực phẩm hàng hóa thông qua hợp đồng. Từ việc làm này đã thúc đẩy phát triển mô hình HTX kiểu mới trong nông nghiệp. Theo Chi cục HTX An Giang, trước Quyết định 80, toàn tỉnh chỉ có 96 HTX nông nghiệp. Ðến nay, đã tăng thêm 24 HTX và hàng trăm tổ hợp tác mới. Ðến nay, An Giang đã có 10 DN thực hiện ký hợp đồng tiêu thụ lúa với 54 HTX, chiếm gần 50% số HTX nông nghiệp của tỉnh và 178 tổ hợp tác với diện tích khoảng hơn 100 nghìn ha, sản lượng khoảng 400 nghìn tấn.
Có thể nói, việc sản xuất, tiêu thụ SPHH thông qua hợp đồng đã góp phần giúp cho An Giang chuyển dịch nhanh cơ cấu sản xuất nông nghiệp hàng hóa, tham gia bình ổn giá cả trên thị trường, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân và củng cố, phát triển quan hệ sản xuất mới; hình thành mối liên kết "bốn nhà", góp phần thúc đẩy nền kinh tế chung của tỉnh phát triển.
Ðến An Giang, chúng tôi thấy, bên cạnh bốn nhóm nông sản hàng hóa chính được tiêu thụ theo nội dung Quyết định 80 đạt hiệu quả kinh tế - xã hội khá tốt, thì ngược lại, SPHH thuộc các nhóm khác, đạt tỷ lệ rất thấp. Diện tích sản xuất lúa hàng hóa mới đạt hơn 9% về diện tích, sản phẩm tiêu thụ đạt hơn 12% so hợp đồng. Vì sao vậy?
Có nhiều nguyên nhân, trong đó nổi lên là khi xây dựng hợp đồng giữa nhà DN và nhà sản xuất chưa hoặc không quy định các điều khoản ràng buộc, các bên chỉ thỏa thuận với nhau mang tính chất như một bản ghi nhớ, chưa phải là hợp đồng kinh tế. Một lý do nữa làm cho tính khả thi hợp đồng không cao, phần lớn SPHH làm ra chưa có thương hiệu, giá cả và thị trường thường xuyên biến động cho nên việc xác định giá tiêu thụ sản phẩm rất khó khăn, dẫn đến tình trạng DN và người trồng nông sản chưa gắn kết với nhau, cả DN và người sản xuất đều vi phạm các điều cam kết, dẫn đến hợp đồng dễ bị phá vỡ.
Trước hết, đối với các hộ nông dân, nhận thức về hợp đồng còn hạn chế, họ chưa quan tâm thực hiện đúng các điều cam kết đã ký, dẫn đến số lượng và chất lượng sản phẩm làm ra, thời hạn giao nộp SPHH không tuân thủ theo hợp đồng. Tình trạng phổ biến, nhiều hộ nông dân mặc dù đã ký hợp đồng, nhận đầu tư ứng trước về vốn, vật tư, kỹ thuật của DN, nhưng khi giá sản phẩm thị trường biến động, lập tức họ bán sản phẩm cho nơi khác, đơn vị khác với giá cao hơn; cũng có trường hợp một số hộ cố tình bán sản phẩm cho đơn vị khác, lẩn tránh việc thanh toán các khoản đã nhận đầu tư của DN, không nghĩ đến trách nhiệm đối với hợp đồng. Khi thị trường rớt giá, họ mới quay lại bán SPHH cho DN đã ký hợp đồng với mình.
Nhiều HTX nông nghiệp còn yếu, nhất là về công tác quản lý, chưa tạo lập được niềm tin, cho nên DN chưa thật mặn mà ký hợp đồng với HTX. Vì thế, An Giang vẫn còn tình trạng DN ký hợp đồng với các tầng, nấc trung gian như: thương lái hoặc trưởng ấp, trưởng thôn, cán bộ khuyến nông hay hội nghề nghiệp... những đối tượng này đều không có tư cách pháp nhân. Khi hợp đồng bị vi phạm, không biết dựa vào ai, cấp nào có thẩm quyền để xử lý.
Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh An Giang Ðoàn Ngọc Phả cho biết, trên địa bàn tỉnh, một số DN tham gia ký hợp đồng là nhằm thực hiện chủ trương của Nhà nước, của tỉnh mang tính "gò ép", chưa xuất phát từ quan hệ lợi ích kinh tế, nên việc gắn kết với người sản xuất còn rời rạc, thiếu chặt chẽ. Một số DN chưa thật sự tôn trọng hợp đồng đã ký, không bảo đảm cả về số lượng và chất lượng vật tư cung ứng cho người sản xuất.
Nhằm khắc phục những bất cập, thiếu sót nêu trên, tiếp tục thực hiện rộng rãi, có hiệu quả chính sách khuyến khích, tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng, đồng chí Nguyễn Minh Nhị, Phó Bí thư Tỉnh ủy An Giang cho chúng tôi biết: Trong thời gian tới, An Giang thực hiện tốt một số giải pháp có tính quyết định:
Trước hết, UBND tỉnh chỉ đạo các cấp, các ngành liên quan phối hợp các DN, thực hiện mạnh mẽ, sâu rộng công tác tuyên truyền, làm chuyển biến thật sự nhận thức của các DN và nông dân hiểu rõ mục đích và thực hiện đúng nội dung Quyết định 80, tôn trọng và thực thi các điều khoản đã cam kết. Thông qua việc tuyên truyền, từng bước làm thay đổi tập quán sản xuất cũ, chuyển nhanh sang sản xuất hàng hóa theo quy hoạch và kế hoạch; xây dựng ý thức hợp tác bền vững theo mô hình "liên kết bốn nhà", khuyến cáo đối tác tham gia hợp đồng sản xuất, tiêu thụ nông sản hàng hóa không vì lợi ích cục bộ trước mắt làm ảnh hưởng đến lợi ích lâu dài.
- Củng cố, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động dịch vụ của các tổ chức kinh tế tập thể, nòng cốt là HTX, làm chức năng "cầu nối" giữa nông dân, xã viên với các DN. Dựa trên nguyên tắc tự nguyện, quản lý dân chủ, công khai và cùng có lợi, các HTX tiến hành vận động, thu hút các chủ cơ sở chế biến nông sản, các chủ phương tiện vận chuyển, nhà DN góp vốn tham gia HTX, tạo thế và lực cho HTX thực hiện sản xuất, tiêu thụ SPHH thông qua hợp đồng.
- An Giang kiến nghị với các bộ, ngành liên quan sớm nghiên cứu, xây dựng chính sách bảo hiểm, bảo lãnh hợp đồng, bảo đảm hợp đồng được thực hiện theo đúng nội dung đã cam kết; có chính sách hỗ trợ các đối tượng tham gia hợp đồng xử lý khi gặp rủi ro do thiên tai, sự biến động về giá cả thị trường và các nguyên nhân bất khả kháng khác.
- Kiến nghị với Chính phủ, các bộ, ngành liên quan sớm cụ thể hóa nội dung và trách nhiệm của các bên tham gia mô hình "liên kết bốn nhà" đã được nêu ra trong Quyết định 80; sớm tạo điều kiện cho người sản xuất, nhất là HTX nông nghiệp ký hợp đồng tiêu thụ SPHH được vay vốn để phát triển sản xuất. Các DN ký hợp đồng tiêu thụ SPHH được ưu tiên tham gia thực hiện hợp đồng thương mại cấp quốc gia, tạo thêm thị trường giúp DN mở rộng diện ký hợp đồng với các HTX, hộ nông dân.