Ở Quảng Ninh, làm giàu từ than dễ và nhanh hơn cả.
Dễ nhất, đơn sơ nhất trong giới than lậu là những chủ lò khai thác ngay tại nhà mình. Khi phát hiện vỉa than trong vườn nhà (thường là do đào giếng mà gặp) chỉ cần xây cao tường quây là có thể bắt đầu khai thác. Với sản lượng chỉ vài tấn mỗi ngày, các chủ lò tự phát này đã có thể kiếm được vài chục triệu đồng mỗi tháng.
Ở mức chuyên nghiệp hơn một chút là các chủ lò than "thổ phỉ". Ðiểm khai thác thường sâu trong rừng, vùng núi hẻo lánh. Các chủ than mở hầm lò, khai thác, xẻ đường cho xe vào chở than càng nhiều càng tốt trước khi vụ việc trở nên ồn ào, buộc chính quyền phải ra tay dẹp bỏ. Hình thức khai thác bán công nghiệp này cho các chủ than thu nhập đến hàng trăm triệu đồng mỗi tháng.
Mối lo thường trực của các chủ than "thổ phỉ" không chỉ là chính quyền, mà trước hết là sự giành giật lãnh địa của các băng nhóm khác.
Bạo lực đáp lại bạo lực, kẻ mạnh được tất cả, đó là phương thức tồn tại của chủ lò than "thổ phỉ". Ðã có một thời, đây là phương thức khai thác than trái phép phổ biến nhất ở vùng than.
Cùng với những đợt ra quân ngày càng quyết liệt của chính quyền địa phương, than "thổ phỉ" ngày càng thưa thớt. Tuy nhiên, lượng than trái phép tiếp tục tăng.
Như lãnh đạo ngành than mới đây thừa nhận: Một số "đầu nậu" than đã kịp thích nghi với tình hình mới, trở thành các chủ doanh nghiệp có đầy đủ tư cách pháp nhân.
Bên ngoài khu vực do Tập đoàn công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam TKV quản lý, hàng loạt công ty và cá nhân lập dự án trồng rừng, đào ao, hồ... Ðịa điểm là những nơi có vỉa than trữ lượng khá lớn, thường là theo thông tin rò rỉ.
Với các dự án đào ao, hồ, san lấp mặt bằng thì việc gặp than và được tận thu than là điều tất yếu. Còn với các dự án trồng rừng, trong quá trình cải tạo mặt bằng luôn "ngẫu nhiên" phát hiện ra vỉa than nằm ngay gần bề mặt.
Vậy là phải tận thu khai thác cho khỏi lãng phí tài nguyên. Hình thức làm "dự án" này cho lợi nhuận từ vài chục đến cả trăm triệu đồng mỗi ngày.
Tuy nhiên, đây vẫn là hình thức làm ăn bấp bênh, lệ thuộc vào hoàn cảnh và thái độ của chính quyền địa phương.
Vừa qua, Công an Quảng Ninh đã kiến nghị thu hồi hàng chục giấy phép dự án trồng rừng, đào ao, san lấp mặt bằng tại các địa phương Ðông Triều, Hạ Long, Cẩm Phả.
Chắc chắn, lợi nhuận cao nhất là các chủ tư nhân được liên kết bốc xúc, vận chuyển, chế biến, tận thu than với các đơn vị thành viên của Tập đoàn TKV.
Năm 2005, Công ty cổ phần Phát triển công nghiệp Quảng Ninh đã buộc cả giới sản xuất than tư nhân phải ngả mũ khi trực tiếp ký hợp đồng mua từ bãi thải mỏ bảy triệu m3 xít thải mỏ và bã xít để tận thu thêm và san lấp mặt bằng.
Một chủ khai thác than tư nhân phân tích: mối lợi trực tiếp từ sàng lọc, chế biến bảy triệu m3 xít thải đã lớn nhưng vẫn chưa thấm vào đâu so với việc cả đoàn xe vận tải của Công ty cổ phẩn Phát triển công nghiệp Quảng Ninh được ra vào khu vực khai thác trường mỏ.
Cho đến nay, các đơn vị thành viên của TKV đã ký hàng chục hợp đồng liên kết bốc xúc, vận chuyển, tận thu khai thác, mở đường cho đội xe, máy hùng hậu của các chủ tư nhân hoạt động trong địa phận mỏ do doanh nghiệp Nhà nước quản lý.
Thực chất của các hợp đồng này như thế nào sẽ được các cơ quan điều tra làm rõ.
Lưu ý rằng, kể từ khi giá dầu là 7,9 nghìn đồng/lít, cho đến khi tăng lên 13,9 nghìn đồng/lít, giá thầu bốc xúc, vận chuyển, san ủi mặt bằng vẫn hầu như không đổi, nhưng các hợp đồng loại này vẫn đầy sức hấp dẫn đối với các doanh nghiệp tư nhân ngoài ngành than.
Chỉ có thể giải thích điều này bằng việc các chủ thầu tư nhân đã nắm chắc có thể thu lại từ nguồn than trong khai trường để bù đắp cho giá trúng thầu thấp dưới mức sàn. Sức mạnh của "tập đoàn than tư nhân" có thể nhận biết một phần qua khu vực bãi tập kết, cảng than tại km6, thị xã Cẩm Phả. Ðây cũng chỉ là một trong nhiều cảng than do tư nhân tổ chức. Một lợi thế lớn của các công ty tư nhân khi được liên kết, liên doanh với các đơn vị của TKV là họ có cơ hội hợp thức hóa các loại than lậu, tạo nguồn gốc, xuất xứ để có thể xuất khẩu.
Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh Nguyễn Duy Hưng thẳng thắn đánh giá: Ngay các cấp chính quyền của tỉnh cũng có một số sai lầm, góp phần làm trầm trọng thêm tình trạng khai thác, tiêu thụ than lậu.
Sở Kế hoạch và Ðầu tư cấp giấy phép chế biến, kinh doanh than cho hơn 100 doanh nghiệp ngoài ngành than. Trong đó có nhiều doanh nghiệp không đủ điều kiện kinh doanh mặt hàng này.
UBND tỉnh Quảng Ninh cũng đã nhiều lần bút phê vào các công văn cho phép tận thu tài nguyên còn lẫn trong đất đá, mở đường cho các đơn vị tư nhân tận thu và xuất khẩu than.
Trong Công văn số 1131, ngày 24-3-2008 gửi Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh, UBND tỉnh Quảng Ninh khẳng định: "UBND tỉnh đã có Thông báo số 36/TB-UBND ngày 16-3-2006 về việc không cấp phép cho bất cứ tổ chức và cá nhân nào được tổ chức hoạt động khai thác và tận thu than. Việc cấp giấy phép chế biến than thuộc thẩm quyền của Bộ Tài nguyên và Môi trường (khoản a mục 1 điều 56 Luật Sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật Khoáng sản năm 2005)". Tuy nhiên, chỉ sau đó bốn ngày, UBND tỉnh Quảng Ninh đã cấp giấy phép chế biến khoáng sản số 907/GP-UBND cho Công ty cổ phần Tập đoàn INDEVCO, thực chất là chế biến than tận thu ở đồi 908 với số lượng 15 triệu tấn trong 10 năm.
Cần lưu ý rằng Công ty cổ phần Tập đoàn INDEVCO chính là Công ty cổ phần Phát triển công nghiệp Quảng Ninh sau khi đổi tên.
Một điều khó tin là cho đến nay, rất nhiều mỏ thuộc TKV hoạt động mà chưa đổi giấy phép theo Luật Khoáng sản.
Giải thích điều này, Phó trưởng ban Thanh tra, Bảo vệ TKV cho biết: Do việc cấp phép khai thác các mỏ than phải dựa trên quy hoạch tổng thể chiến lược phát triển của ngành than. Mà quy hoạch tổng thể thì mới đang trình duyệt nên việc cấp phép mới cho các mỏ cũng chưa thực hiện được.
Một kẽ hở trong khâu tiêu thụ than là Quảng Ninh xuất hóa đơn, thuế nộp tại nơi tiêu thụ. Thực tế có một số lượng lớn các tàu lập hợp đồng tiêu thụ than nội địa nhưng chở sang Trung Quốc bán, thu chênh lệch.
Chỉ riêng năm 2007, Quảng Ninh phải hoàn thuế xuất khẩu than hết 1.300 tỷ đồng. Trong tình trạng hóa đơn đỏ của các công ty ma phổ biến như hiện nay, khoản thất thu qua hoàn thuế than là không nhỏ. Tất cả đã góp phần làm nên sự phồn thịnh và hùng hậu của "tập đoàn than lậu".
Ngoài yếu kém trong khâu quản lý hoạt động khai thác và tiêu thụ than của TKV và tỉnh Quảng Ninh, các khâu quản lý nhà nước khác cũng phạm những sai lầm.
Chẳng hạn như, Cục Hải quan Quảng Ninh đã tiếp tay cho than không có nguồn gốc hợp pháp sang Trung Quốc. Từ ngày 1-1-2007 đến ngày 30-7-2007, Cục Hải quan Quảng Ninh vẫn làm thủ tục xuất khẩu cho các bộ hồ sơ xuất khẩu của bốn doanh nghiệp với khối lượng 2.589.247 tấn than mà không có tài liệu, giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp. Việc làm này của Cục Hải quan Quảng Ninh trái với Thông tư số 02/1999/TT-BCN ngày 14-6-1999 của Bộ Công nghiệp và hướng dẫn của Tổng Cục Hải quan tại Công văn số 5902/TCHQ-GSQL ngày 4-12-2006.
Than đá là tài nguyên có hạn và không tái tạo được. Cần sử dụng hợp lý và tiết kiệm để các thế hệ sau này đỡ phải nhập khẩu than. Do vậy, Thủ tướng Chính phủ đã ra lệnh cấm xuất khẩu than tiểu ngạch. Ðây là một trong hàng loạt giải pháp Chính phủ vừa chỉ đạo.
Ðể giải quyết đến gốc rễ tình trạng sản xuất, tiêu thụ than lậu, cần rà soát lập lại trật tự một cách bền vững ở vùng than Quảng Ninh.
Cần có những cơ chế giám sát thích hợp, làm lành mạnh các mối liên kết, liên doanh giữa các đơn vị trong và ngoài TKV, đặc biệt cần sớm có thỏa thuận giữa ngành than và chính quyền tỉnh Quảng Ninh về trách nhiệm trong việc quản lý và khai thác tiêu thụ than. Chỉ có như vậy, mới hạn chế thất thoát tài nguyên của đất nước, để nguồn vàng đen trở thành nguồn lực phục vụ sự nghiệp CNH, HÐH đất nước.