Ngày 16/10, tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương trình bày chuyên đề về Quy định số 224-QĐ/TW ngày 14/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh.
Chuyển từ “cho phép” sang “khuyến khích, tạo điều kiện”
Theo đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Quy định số 15-QĐ/TW ngày 28/8/2006 về đảng viên làm kinh tế tư nhân đánh dấu sự thay đổi tư duy của Đảng, thừa nhận và cho phép đảng viên được làm kinh tế tư nhân.
Sau 20 năm thực hiện, số đảng viên làm kinh tế tư nhân tăng hơn 5 lần từ hơn 35 nghìn người năm 2006 lên 187 nghìn người năm 2026. Nhận thức về đảng viên làm kinh tế tư nhân có chuyển biến tích cực; đội ngũ đảng viên, doanh nhân do đảng viên làm chủ, tham gia quản lý có nhiều đóng góp về sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và an sinh xã hội.
Tuy nhiên, mức độ tham gia của đảng viên vào phát triển kinh tế tư nhân còn chưa như kỳ vọng. Số liệu cho thấy, trong 5,6 triệu đảng viên trên toàn quốc, tỷ lệ đảng viên làm kinh tế tư nhân chỉ chiếm 3,31%. Tại thời điểm 31/12/2025, số đảng viên là chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ chiếm khoảng 4,59% số đảng viên trong các đơn vị kinh tế tư nhân và khoảng 0,15% tổng số đảng viên toàn Đảng.
Quy định số 15-QĐ/TW chủ yếu quy định đối với đảng viên ngoài khu vực công; chưa phân định đầy đủ quyền, giới hạn và trách nhiệm theo địa vị pháp lý, chức vụ, vị trí công tác. Phương thức quản lý chủ yếu dựa trên hình thức đứng tên, chưa chú trọng đầy đủ quyền kiểm soát, mức độ chi phối, quản lý, điều hành và lợi ích thực tế. Cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích chưa được quy định đồng bộ.
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV thống nhất ban hành Quy định số 224-QĐ/TW thay thế Quy định số 15-QĐ/TW, với nội hàm rộng hơn, bám sát hoạt động đầu tư, kinh doanh trên thực tiễn và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Quy định 224 được xây dựng trên 5 quan điểm chỉ đạo lớn của Đảng.
Theo đó, một quan điểm chỉ đạo quan trọng là chuyển từ tư duy “cho phép” sang “khuyến khích, tạo điều kiện” để đảng viên làm giàu hợp pháp, chính đáng, đóng góp cho đất nước, mở rộng sự tham gia của đảng viên trong khu vực công.
Đồng thời, chuyển từ tư duy chủ yếu “được làm/không được làm” sang “được làm - được làm có điều kiện, có kiểm soát - không được làm”, gắn với kiểm soát xung đột lợi ích.
Quyền, điều kiện và giới hạn tham gia phải phù hợp với địa vị pháp lý, chức trách, mức độ rủi ro xung đột lợi ích. Việc kiểm soát căn cứ vào quyền sở hữu, quyền chi phối, lợi ích thực tế, không chỉ người đứng tên; không để quyền lực, thông tin, tài sản công trở thành lợi thế riêng. Xung đột lợi ích phải được báo cáo, xử lý đúng thẩm quyền không dừng ở kê khai.
Cùng với đó, phải gắn phát huy vai trò đảng viên trong phát triển kinh tế với giữ vững bản chất của Đảng; trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh không làm thay đổi bản chất giai cấp công nhân của Đảng; xây dựng Đảng trong khu vực ngoài nhà nước và liêm chính công vụ.
Đồng thời, bảo đảm đồng bộ giữa quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, có các quy định về chuyển tiếp phù hợp.
Quy định quyền tham gia đối với 6 nhóm đảng viên
Quy định số 224-QĐ/TW gồm 3 chương, 14 điều. Hoạt động đầu tư, kinh doanh được phân thành bốn loại: hoạt động chuyên môn và khai thác tài sản tạo thu nhập; đầu tư, kinh doanh nhưng không đầu tư thành lập tổ chức kinh tế và không chi phối, quản lý, điều hành; đầu tư, kinh doanh có đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối nhưng không quản lý, điều hành; đầu tư, kinh doanh có tham gia quản lý, điều hành, kể cả trường hợp có đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối.
Trên cơ sở phân loại này, quyền tham gia được quy định đối với sáu nhóm đảng viên.
Đối với đảng viên ngoài khu vực công, được thực hiện tất cả các hoạt động đầu tư, kinh doanh theo Quy định và các hoạt động đầu tư, kinh doanh khác mà pháp luật không cấm, không phải xin chấp thuận của tổ chức đảng.
Trường hợp được giao thực hiện nhiệm vụ công, đảng viên không được lợi dụng tư cách đảng viên, chức vụ trong Đảng hoặc quan hệ với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để tạo lợi thế bất bình đẳng, tác động trái quy định, phục vụ lợi ích riêng, lợi ích nhóm; không được xử lý công việc, nhiệm vụ có xung đột lợi ích chưa được kiểm soát hoặc làm ảnh hưởng tiêu cực đến nhiệm vụ công được giao.
Đối với đảng viên là cán bộ, công chức, bao gồm đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý và đảng viên là cán bộ, công chức không thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý (kể cả giữ chức vụ quản lý và không giữ chức vụ quản lý) thì đều được thực hiện và không phải xin chấp thuận đối với các hoạt động: hoạt động chuyên môn và khai thác tài sản tạo thu nhập; đầu tư kinh doanh nhưng không đầu tư thành lập tổ chức kinh tế và không chi phối, quản lý, điều hành
Đối với đảng viên là cán bộ, công chức không thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý (kể cả giữ chức vụ và không giữ chức vụ) và không ở vị trí có nguy cơ cao xung đột lợi ích thì được mở rộng quyền hơn, được đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, được đầu tư chi phối nhưng phải được chấp thuận.
Quy định nêu rõ tất cả cán bộ, công chức đều không được tham gia quản lý, điều hành bất kỳ hình thức đầu tư nào. Đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý và cán bộ, công chức ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích còn không được đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, giữ cổ phần chi phối.
Đối với đảng viên là viên chức, được thực hiện và không phải xin chấp thuận đối với hoạt động chuyên môn, khai thác tài sản tạo thu nhập; đầu tư, kinh doanh nhưng không đầu tư thành lập tổ chức kinh tế và không chi phối, quản lý, điều hành.
Viên chức không ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích còn được đầu tư, kinh doanh có đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối nhưng không quản lý, điều hành, không phải xin chấp thuận.
Sau khi được chấp thuận, viên chức không giữ chức vụ quản lý và không ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích được tham gia quản lý, điều hành, kể cả trường hợp có đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối, nhưng phải bảo đảm không ảnh hưởng đến chức trách, nhiệm vụ, chất lượng dịch vụ công.
Quy định cũng cho phép viên chức không giữ chức vụ quản lý được tạm thời rời vị trí công tác để đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, đầu tư chi phối, quản lý, điều hành tổ chức kinh tế.
Đáng chú ý, viên chức ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích không được đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, đầu tư chi phối và quản lý, điều hành; viên chức giữ chức vụ quản lý không được đồng thời quản lý, điều hành tổ chức kinh tế, trừ trường hợp được cử tham gia quản lý hoặc làm đại diện phần vốn, tài sản của đơn vị tại tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật.
Đối với đảng viên đang công tác, phục vụ trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, được thực hiện và không phải xin chấp thuận đối với hoạt động chuyên môn, khai thác tài sản tạo thu nhập; đầu tư, kinh doanh nhưng không đầu tư thành lập tổ chức kinh tế và không chi phối, quản lý, điều hành.
Đảng viên không ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích được đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối nhưng không quản lý, điều hành sau khi được chấp thuận. Việc thực hiện phải bảo đảm bí mật nhà nước, bí mật công tác, không phương hại đến quốc phòng, an ninh.
Đảng viên ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích không được đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, đầu tư chi phối và quản lý, điều hành. Trong thời gian công tác, phục vụ, đảng viên không được quản lý, điều hành tổ chức kinh tế, trừ trường hợp được cấp có thẩm quyền phân công, giao nhiệm vụ.
Đối với đảng viên là người quản lý doanh nghiệp nhà nước, người đại diện phần vốn nhà nước, được thực hiện hoạt động chuyên môn và khai thác tài sản tạo thu nhập; đầu tư kinh doanh nhưng không đầu tư thành lập tổ chức kinh tế và không chi phối, quản lý, điều hành; mua, nhận, nắm giữ cổ phần, phần vốn góp và thực hiện các quyền của cổ đông, thành viên tại doanh nghiệp do đảng viên là người quản lý hoặc đại diện phần vốn nhà nước theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, việc thực hiện quyền đối với phần vốn cá nhân phải tách bạch với chức trách quản lý, đại diện phần vốn nhà nước và bảo đảm kiểm soát xung đột lợi ích.
Nhóm này được đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, đầu tư chi phối và quản lý, điều hành sau khi được chấp thuận. Không được đầu tư kinh doanh trong ngành, lĩnh vực có lợi ích liên quan trực tiếp đến doanh nghiệp nhà nước mà đảng viên đó quản lý hoặc đại diện phần vốn nhà nước, trừ trường hợp mua, nhận, nắm giữ cổ phần, phần vốn góp và thực hiện các quyền của cổ đông, thành viên tại doanh nghiệp do đảng viên là người quản lý hoặc đại diện phần vốn nhà nước theo quy định của pháp luật.
Đối với đảng viên sau khi thôi giữ chức vụ, thôi công tác, nghỉ hưu và không còn công tác trong khu vực công, được thực hiện tất cả các hoạt động đầu tư, kinh doanh như đảng viên ngoài khu vực công, trừ những hoạt động bị hạn chế liên quan đến lĩnh vực, công việc đã phụ trách trong phạm vi và thời hạn theo pháp luật.
Trường hợp thôi giữ chức vụ nhưng tiếp tục công tác trong khu vực công thì thực hiện quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm theo chức danh, vị trí công tác mới; đồng thời tuân thủ các hạn chế liên quan đến lĩnh vực, công việc đã phụ trách.
Không để quyền lực công, nguồn lực công phục vụ lợi ích riêng
Về nguyên tắc chung, đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh phải bảo đảm về tuân thủ pháp luật, những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm với Nhà nước, xã hội, môi trường, người lao động, người tiêu dùng.
Quyền sở hữu, quyền tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp của đảng viên được bảo vệ theo pháp luật. Cấp ủy, tổ chức đảng không đặt thêm điều kiện, thủ tục hạn chế quyền đầu tư, kinh doanh hợp pháp ngoài những điều kiện, thủ tục tại Quy định và hướng dẫn của Ban Bí thư.
Đảng viên giữ nhiều chức danh, thực hiện nhiều nhiệm vụ hoặc thuộc nhiều nhóm đối tượng phải tuân thủ giới hạn tương ứng với từng chức danh, nhiệm vụ, nhóm đối tượng.
Đảng viên trong khu vực công không được sử dụng trái quy định tài sản nhà nước, thông tin, dữ liệu, nhân lực, kết quả nghiên cứu và các nguồn lực công khác để phục vụ hoạt động đầu tư, kinh doanh của bản thân, người có liên quan hoặc nhóm lợi ích; không được đầu tư, kinh doanh vào tổ chức kinh tế, lĩnh vực mà mình trực tiếp quyết định, quản lý.
Việc chấp thuận đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh do cấp có thẩm quyền quyết định theo phân cấp quản lý cán bộ. Đây là yêu cầu trong nội bộ Đảng, không thay thế điều kiện, trình tự, thủ tục theo pháp luật.
Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh: “Quy định số 224-QĐ/TW thể hiện bước đổi mới quan trọng trong tư duy và phương thức quản lý đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh, từ quy định giới hạn chung sang xác lập rõ quyền, giới hạn và trách nhiệm theo từng nhóm; khuyến khích phát huy nguồn lực hợp pháp của đảng viên, đồng thời kiểm soát chặt chẽ xung đột lợi ích và việc sử dụng quyền lực công, nguồn lực công.
Tinh thần xuyên suốt là khuyến khích đảng viên phát huy năng lực, tham gia đầu tư, kinh doanh hợp pháp, làm giàu chính đáng, đóng góp cho xã hội; đồng thời tuân thủ pháp luật, không lợi dụng tư cách đảng viên hoặc quyền lực công để vụ lợi, chủ động kiểm soát xung đột lợi ích và thực hiện nghiêm trách nhiệm nêu gương.