Tiếng nổ rạng sáng 1/3/1968 khép lại hải trình sinh tử của Tàu C235. Nối tiếp đêm lửa ấy là những cuộc tìm kiếm, chôn cất đồng đội lặng lẽ trên bờ, từng được ghi lại trong cuốn nhật ký bọc vải xám. Gần sáu mươi năm sau, câu chuyện lịch sử ấy tiếp tục được viết bằng hành trình bền bỉ của những người con đi tìm hình bóng cha qua lời kể của mẹ, ký ức đồng đội, những lá thư úa màu và những trang báo cũ.

Những đứa trẻ ngày cha lên đường nay tóc đã điểm bạc. Họ đứng trước đại dương, thắp từng nén hương dọc những dãy mộ liệt sĩ, nhưng nỗi day dứt trong họ vẫn vẹn nguyên: Đã đến được nơi cha hy sinh, nhưng đâu mới là phần mộ mang đúng tên cha?

Trong câu chuyện với chúng tôi, cựu binh Lê Duy Mai nhắc tới một việc những người đồng đội đang theo đuổi: đề nghị truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho liệt sĩ Nguyễn Tương, Chính trị viên Tàu C235.

Từ thông tin ấy, qua cựu binh Lê Duy Mai, chúng tôi liên lạc được với ông Nguyễn Trường Sơn, con trai liệt sĩ Nguyễn Tương. Nghe chúng tôi nhắc đến tên cha và con tàu C235, ở đầu dây bên kia giọng ông Sơn chững lại một nhịp dài...

5 thủy thủ còn sống sót của Tàu C235 (từ trái sang phải): Nguyễn Văn Phong, Lê Duy Mai, Vũ Long An, Lâm Quang Tuyến, Hà Minh Thật. Ảnh tư liệu 

5 thủy thủ còn sống sót của Tàu C235 (từ trái sang phải): Nguyễn Văn Phong, Lê Duy Mai, Vũ Long An, Lâm Quang Tuyến, Hà Minh Thật. Ảnh tư liệu 

Ký ức ông kể đưa câu chuyện trở về năm 1966. Khi ấy, Sơn sáu tuổi, xuống thăm cha đang đóng quân ở Hải Phòng. Trước đó, năm 1963, hai mẹ con từ công trường 136 Mộc Châu, Sơn La chuyển xuống Lâm trường chè Trần Phú (trước đây là Nghĩa Lộ, Yên Bái) để thuận tiện đi lại thăm cha. Đường sá khó khăn, những lần đoàn tụ cũng ít ỏi. Đến trước Tết năm 1968, cha viết thư báo mẹ con không phải xuống, ông được nghỉ và sẽ về ăn Tết cùng hai mẹ con.

Nhưng người cha không về. Những lá thư gửi đi không có hồi âm.

Ông Sơn nhớ, năm 1970, gia đình nhận giấy báo tử; năm sau, quân trang của cha được gửi về. Từ đó, tin tức thưa vắng. Hai mẹ con cũng chưa tìm được địa chỉ để liên lạc với gia đình bên nội ở miền Nam.

Nhiều năm sau, một bài báo trở thành chiếc cầu nối giúp ông Sơn tìm lại quê cha. Bài viết nhắc tới Chính trị viên Nguyễn Tương, người con tên Nguyễn Trường Sơn và quê gốc ở xã Điện Thắng (huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam). Lần theo thông tin ấy, năm 2001, ông Sơn tìm về Điện Thắng, nghẹn ngào gặp lại họ hàng bên nội sau nhiều năm xa cách.

Trong quá trình tìm tư liệu tại Thư viện Quân đội, chúng tôi gặp lại câu chuyện ấy trong cuốn Huyền thoại tàu không số. Nhà văn Đình Kính ghi lại cuộc gặp với thương binh Nguyễn Văn Tỏi, em út liệt sĩ Nguyễn Tương. Người em kể rằng chiến tranh ly tán khiến gia đình nhiều năm mất liên lạc với mẹ con ông Sơn ở miền Bắc, chỉ biết tên người cháu mà không rõ địa chỉ. Từ những thông tin ít ỏi ấy, bài báo nhắn tìm người thân đã góp phần nối lại mối liên hệ giữa hai bên gia đình.

Ông Sơn nhớ chuyến vào Khánh Hòa ngày 1/3/2025. Khi viếng nghĩa trang, ông tới dãy mộ mà theo lời kể, ông được biết là của những người lính tàu không số. Không biết đâu là phần mộ cha, ông “thắp hương từ đầu cho đến đuôi 14 ngôi mộ”. Lời kể ấy còn cần được đối chiếu với hồ sơ quản lý mộ và quy tập để làm rõ từng trường hợp.

Từ câu chuyện của ông Sơn, chúng tôi tìm hiểu thêm những đóng góp của Chính trị viên Nguyễn Tương đang được tập hợp trong hồ sơ đề nghị truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Ngày 2/12/2025, Quân chủng Hải quân chính thức công bố lấy ý kiến dư luận về đề nghị truy tặng cho ông. Đến tháng 4/2026, tên người chính trị viên Tàu C235 Nguyễn Tương tiếp tục có mặt trong danh sách Bộ Quốc phòng công bố lấy ý kiến xét truy tặng công khai.

Chia sẻ với chúng tôi về vai trò của liệt sĩ Nguyễn Tương, ông Đào Hồng Tuyển, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Cựu chiến binh Đoàn tàu Không số Việt Nam, nhấn mạnh đến sức mạnh củng cố tinh thần đoàn kết, động viên cán bộ, chiến sĩ vượt qua muôn vàn gian khó trên những chuyến vận chuyển vũ khí vào Nam.

Theo tư liệu, Trung úy Nguyễn Tương sinh năm 1934, nhập ngũ năm 1955. Từ đó đến khi hy sinh năm 1968, ông trải qua nhiều nhiệm vụ, từng giữ cương vị Bí thư chi bộ, Chính trị viên các tàu C100, C210, C235. Tài liệu ghi nhận ông cùng tập thể cán bộ, chiến sĩ hoàn thành sáu chuyến vận chuyển, đưa hàng trăm tấn vũ khí chi viện chiến trường miền Nam.

Ngày 4/1/1965, Tàu C210 do ông cùng Thuyền trưởng Trương Xuân Quang chỉ huy nhổ neo, đưa 63 tấn vũ khí tới Bạc Liêu an toàn. Trong chuyến đi ngày 24/12/1965, Tàu C100 chở 61 tấn vũ khí hướng vào Cà Mau bị tàu chiến Mỹ bám theo khi cách bờ khoảng 30 hải lý.

Theo tài liệu, Chính trị viên Nguyễn Tương chủ trì họp chi ủy, cùng chỉ huy tàu thống nhất chuyển hướng ra vùng biển quốc tế, bảo vệ tàu và giữ bí mật nhiệm vụ.

Trên chuyến đi cuối cùng của C235, những quyết định hội ý giữa chính trị viên và thuyền trưởng tiếp tục được tài liệu nhắc tới: tìm cách vượt đội hình đối phương vào bến, thả hàng xuống nước khi không liên lạc được với lực lượng bờ, rồi cơ động để giữ bí mật vị trí thả hàng. Giữa trận đánh, Chính trị viên Nguyễn Tương có mặt tại các vị trí chiến đấu, động viên cán bộ, chiến sĩ giữ vững quyết tâm, không để tàu, hàng và người rơi vào tay đối phương.

Năm 2011, tập thể Tàu C235 được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Năm 2011, tập thể Tàu C235 được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Năm 1970, Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Năm 2011, tập thể Tàu C235 được truy tặng danh hiệu Anh hùng. Hồ sơ đề nghị truy tặng cho Chính trị viên Nguyễn Tương hôm nay góp phần làm rõ thêm những đóng góp lặng lẽ của ông trong chiến công chung ấy.

Qua tư liệu và lời kể của đồng đội, hình bóng người cha hiện lên rõ hơn. Với ông Nguyễn Trường Sơn, niềm tự hào ấy vẫn đi cùng một mong mỏi chưa nguôi: tìm được nơi cha yên nghỉ để thắp nén hương.

Tiếp nối câu chuyện của gia đình Chính trị viên Nguyễn Tương, hành trình kết nối các thân nhân C235 của chúng tôi mở ra một địa chỉ mới.

Từ cuốn sổ tay lưu giữ số điện thoại đồng đội mà cựu binh Lê Duy Mai trao lại, chúng tôi kết nối được tới bà Ngô Thị Hải Yến, con gái liệt sĩ Ngô Văn Thứ, người thợ máy kiên cường cùng Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh chốt giữ gành đá Bà Nam đến phút cuối cùng.

“Cô đâu có được biết mặt bố…”, câu nói đi liền với một tiếng thở dài.

Bội phần thiệt thòi vì vừa là đứa con duy nhất của thợ máy Ngô Văn Thứ, lớn lên thiếu sự chăm sóc của cha, lại chịu khuyết tật thể chất từ nhỏ, bà càng mong có một điểm tựa trong đời.

Bà Ngô Thị Hải Yến, con gái liệt sĩ Ngô Văn Thứ, trao đổi với phóng viên về hành trình tìm cha, bên những bức ảnh và tư liệu gia đình lưu giữ.

Bà Ngô Thị Hải Yến, con gái liệt sĩ Ngô Văn Thứ, trao đổi với phóng viên về hành trình tìm cha, bên những bức ảnh và tư liệu gia đình lưu giữ.

Lần duy nhất người thợ máy Ngô Văn Thứ về thăm nhà là khi con gái vừa cất tiếng khóc chào đời. Vỏn vẹn một, hai ngày ngắn ngủi rồi ông lại vội vã khoác ba lô lên đường bước vào chuyến đi biền biệt. Người cha có lẽ đã kịp ngắm nhìn đứa con bé nhỏ, nhưng người con ngày ấy còn quá bé để giữ lại cho riêng mình dù chỉ một ánh mắt, một nụ cười của cha…

Trong lịch sử C235, Ngô Văn Thứ được ghi nhận cùng Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh lên bờ tiếp tục chiến đấu rồi anh dũng hy sinh. Nhưng câu chuyện ấy đã không sớm đến được với gia đình.

Chỉ vỏn vẹn bốn chữ: “Mặt trận phía nam”

Điều bà Yến nhớ trên giấy báo tử năm xưa chỉ vỏn vẹn bốn chữ: “Mặt trận phía nam”, một vùng đất quá rộng lớn để mẹ con bà biết phải bắt đầu tìm từ đâu.

Bà từng nghe người ta kháo nhau con tàu bị hủy, không ai còn sống, hy sinh ngoài biển thì làm sao tìm thấy. Khi chưa biết có những thủy thủ trở về, mẹ con bà cũng chưa biết có thể hỏi ai về những giờ phút cuối cùng của ông.

Đầu mối đầu tiên đến từ một chương trình đọc truyện đêm khuya. Bà kể, có người trong làng nghe đài rồi chạy sang báo rằng câu chuyện về Tàu Không số có nhắc đến tên cha bà. Dù người nghe chỉ nhớ cái tên chứ chưa biết nơi hy sinh hay chôn cất, nhưng từ đêm ấy, gia đình biết câu chuyện về Ngô Văn Thứ vẫn đang được lưu truyền.

Bà Ngô Thị Hải Yến lần đầu lên khu vực đảo Hòn Hèo thắp hương cho cha và các liệt sĩ tàu C235.

Bà Ngô Thị Hải Yến lần đầu lên khu vực đảo Hòn Hèo thắp hương cho cha và các liệt sĩ tàu C235.

Sau đó, một bài báo nhỏ giúp bà lần tới các cơ quan ở Hà Nội: Quân chủng Hải quân, Báo Cựu chiến binh, Đài Tiếng nói Việt Nam, Điện ảnh Quân đội. Có nơi giới thiệu thêm địa chỉ; có nơi cho hai mẹ con xem phim tư liệu. Qua từng cuộc tìm hỏi, câu chuyện về người cha và con đường tới Hòn Hèo dần rõ hơn.

Trong tư liệu gia đình lưu giữ có ảnh chụp bài “Gặp con của người làm nên huyền thoại”, kể việc hai mẹ con tìm đến Báo Cựu chiến binh, cùng bài “Ngô Văn Thứ - Trái tim chiến hạm” trên báo Quân đội nhân dân Cuối tuần. Những trang báo giữ lại một chặng đường gia đình đã đi qua để tìm tin người thân.

Bức ảnh tư liệu ghi lại hình ảnh mẹ bà Yến đội nón lá bên những mảnh vỡ của Tàu C235 tại Hòn Hèo.

Bức ảnh tư liệu ghi lại hình ảnh mẹ bà Yến đội nón lá bên những mảnh vỡ của Tàu C235 tại Hòn Hèo.

Năm 1995, sau 27 năm kể từ đêm Tàu C235 tự huỷ giữa vùng biển Hòn Hèo, mẹ con bà Ngô Thị Hải Yến tìm đến được nơi người thân đã chiến đấu và hy sinh.

Năm 1995, sau 27 năm kể từ đêm Tàu C235 tự huỷ giữa vùng biển Hòn Hèo, mẹ con bà Ngô Thị Hải Yến tìm đến được nơi người thân đã chiến đấu và hy sinh.

Nhờ sự giúp đỡ của các đơn vị Hải quân, trong đó có Lữ đoàn 125 và Học viện Hải quân, năm 1995, hai mẹ con bà Yến lần đầu tìm tới Hòn Hèo, sau 27 năm kể từ đêm C235 tự hủy. Chuyến đi khi ấy còn nhiều trở ngại: có chặng phải nhờ xuồng của người dân, có chặng được phương tiện Hải quân đưa tới. Những địa danh từng chỉ nghe qua lời kể nay hiện ra trước mắt. Hai mẹ con đã đến được nơi người thân chiến đấu, hy sinh, nhưng vẫn chưa biết ông yên nghỉ ở đâu.

Bà Yến còn nhớ lời ông Trà Thái Lâm, nguyên Chủ tịch UBND xã Ninh Vân (nay là xã Ninh Phước) và người ở bến khi ấy: mẹ con bà là những thân nhân đầu tiên tìm tới. Lời kể ấy ở lại trong ký ức bà cùng hình ảnh người mẹ cầm chiếc nón lá giữa chuyến đi. Sau này, thấy hình ảnh được phát trên truyền hình, người trong làng nhận ra rồi kể lại với gia đình.

Năm 1997, Hải Yến cùng mẹ trở lại Hòn Hèo lần thứ hai. Năm 2006, bà đi cùng chú ruột đến thắp hương tưởng nhớ cha.

Năm 2017, bà lại tìm về Hòn Hèo. Đường sá khi ấy đã thuận tiện hơn, ô-tô có thể đi tới nơi. Đến thăm ông Nguyễn Bá Cường, bà được dẫn đi viếng nghĩa trang. Theo lời bà kể, tại đây có một khu vực gồm tám phần mộ, riêng bia mang tên Đoàn Văn Nhi nằm ở vị trí khác. Bà thắp hương trước những ngôi mộ, nhưng vẫn không biết đâu là nơi cha mình yên nghỉ.

Trong cuộc trò chuyện với chúng tôi, bà Yến cho biết mẹ vẫn còn sống. Người vợ từng cùng con lặn lội đi tìm chồng nay đã ở tuổi cao bóng xế. Gia đình vẫn tiếp tục gửi những lá đơn mong tin. Chuyến đi giúp hai mẹ con tìm được về Hòn Hèo. Còn nơi người chồng, người cha yên nghỉ, họ vẫn chờ một câu trả lời.

Với bà Doãn Thị Thu, con gái liệt sĩ Doãn Quang Ruyện, chiến sĩ báo vụ Tàu C235, những thông tin tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ trên truyền hình lại khơi lên niềm mong mỏi tìm được cha.

“Cô xem đến đâu cô khóc đến đấy, cô bảo ước gì cô cũng tìm được bố về, dù là chỉ có một tí cũng được”. Giọt nước mắt của người con gái ở tuổi sáu mươi là sự dồn nén của hơn nửa thế kỷ sống trong nỗi nhớ thương mơ hồ về người cha mà bà không giữ được ký ức về gương mặt.

Ước gì cô cũng tìm được bố về, dù là chỉ có một tí cũng được.

Theo lời bà nội kể lại, trước khi xung phong nhập ngũ, ông Doãn Quang Ruyện từng là một giáo viên. Ngày ông ghé qua nhà thăm vợ con rồi vội vã trở lại đơn vị, con gái mới vừa tròn ba tháng tuổi.

Đến rạng sáng 1/3/1968, khi người chiến sĩ báo vụ anh dũng hy sinh trong trận chiến tàu C235 tại bến Hòn Hèo, bà Thu (sinh năm 1964) mới khoảng bốn tuổi, hoàn toàn chưa kịp giữ lại một ký ức nào về cha.

Hình bóng ông chỉ được người con gom góp lại qua lời kể của bà nội, của mẹ và những đồng đội còn sống.

Di vật hiếm hoi người cha để lại là một lá thư đã úa màu thời gian, nhiều chỗ rách nát phải dùng băng dính dán lại. Bức thư gửi cho người em gái trước ngày bước vào hải trình sinh tử, dặn dò em thay mình chăm sóc cha mẹ già, người vợ trẻ và các con thơ nếu anh có mệnh hệ gì.

Năm 1990, trước khi qua đời vì bệnh hiểm nghèo, mẹ bà đã nói với hai con, nếu sau này biết nơi bố hy sinh thì đến đó thắp hương cho bố. Trải qua nhiều lần nhà cửa hư hại vì bão lũ, giấy báo tử không còn, gia đình chỉ còn biết lưu giữ Bằng Tổ quốc ghi công làm điểm tựa để lần tìm hình bóng cha.

Mãi đến năm 2005, một người hàng xóm tình cờ xem chương trình truyền hình về Tàu C235, nhận ra tên liệt sĩ Doãn Quang Ruyện trên bia ghi danh liền sang báo cho gia đình bà Thu. Từ đầu mối ấy, bà lần tìm và biết cha mình đã hy sinh tại vùng biển Hòn Hèo, Khánh Hòa.

Từ phải qua: Hai con và em gái liệt sĩ Roãn Quang Ruyện (sinh năm 1941, quê Đông Trung, Tiền Hải, Thái Bình) viếng bia ghi danh (cũ) liệt sĩ tàu C235. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)

Năm 2006, bà Thu cùng chị dâu thu xếp vào Khánh Hòa. Khi ấy, đường bộ tới khu di tích chưa khai thông, hai người phụ nữ phải thuê xuồng của người dân vượt biển vào Hòn Hèo. Lần đầu đứng trước nơi cha chiến đấu, hy sinh, bà thắp hương rồi thầm nói: “Vậy là chúng con đã đến được nơi bố chiến đấu và hy sinh, đã thực hiện được lời dặn cuối cùng của mẹ”.

Nhưng khi tới Nghĩa trang liệt sĩ thị xã Ninh Hòa, đứng trước những phần mộ được giới thiệu là của các chiến sĩ tàu không số, bà vẫn không biết cha mình nằm ở đâu. Người con chỉ có thể thắp hương cho những phần mộ chưa rõ thông tin mà bà được giới thiệu.

Sau chuyến đi ấy, qua những trang báo viết về Tàu C235, gia đình kết nối được với cựu binh Lê Duy Mai. Những lá thư hồi âm đầu tiên đã đưa người con đến gần hơn với đồng đội của cha.

Năm 2016, khi tuyến đường bộ vào Hòn Hèo đã hoàn thành, bà Thu trở lại Khánh Hòa cùng anh trai. Trong chuyến đi này và những lần gặp gỡ sau đó, hai anh em còn được nghe các cựu binh như ông Mai, ông Phong, ông Thật, ông Tuyến kể lại trận đánh rực lửa năm nào.

(Từ trái sang) Chị Ngô Hải Yến (thứ nhất) và chị Doãn Thị Thu (thứ ba) thắp hương cho cha và các liệt sĩ tàu C235 tại Khu di tích lịch sử Quốc gia Hòn Hèo.

(Từ trái sang) Chị Ngô Hải Yến (thứ nhất) và chị Doãn Thị Thu (thứ ba) thắp hương cho cha và các liệt sĩ tàu C235 tại Khu di tích lịch sử Quốc gia Hòn Hèo.

Bà kể mình được nghe các cựu binh kể cha bà là chiến sĩ báo vụ Doãn Quang Ruyện thuộc nhóm 5 chiến sĩ hy sinh ngay trên tàu trong cuộc giao chiến với tàu chiến địch. Tuy nhiên, trong thời khắc sinh tử hỗn loạn trước khi tàu tự hủy, liệu thi thể của ông có được đồng đội kịp đưa lên bờ hay nằm lại giữa đại dương vẫn là câu hỏi chưa có lời đáp chắc chắn.

Mong mỏi lớn nhất lúc này của bà Thu và gia đình là các cơ quan chức năng tiếp tục rà soát các đầu mối trên bờ, đồng thời hỗ trợ khai quật, lấy mẫu ADN tại các phần mộ chưa xác định thông tin ở Nghĩa trang Liệt sĩ Ninh Hòa. Song song đó là nguyện vọng xem xét rà quét, khảo sát lại khu vực con tàu năm xưa, với hy vọng tìm lại dù chỉ một kỷ vật hay dấu tích nhỏ ngoi lên từ lòng biển cả, đưa người chiến sĩ báo vụ trở về yên nghỉ trên mảnh đất quê hương.

Với hai con gái liệt sĩ Trần Lộc, đầu mối đưa họ tới Hòn Hèo là một cuộc điện thoại.

Bà Trần Thị Nhung, con gái cả, sinh năm 1961; em gái bà là Trần Thị Quế sinh năm 1963. Khi người cha, thợ máy Tàu C235, hy sinh trong trận đánh ở Hòn Hèo năm 1968, hai chị em mới lên bảy và năm tuổi.

Bà Nhung kể, năm 2009, gia đình bất ngờ nhận được cuộc gọi báo tin tên liệt sĩ Trần Lộc đã được khắc trên bia tưởng niệm Tàu C235 ở Ninh Vân, Khánh Hòa. Nhận được tin, hai chị em tìm vào nơi cha chiến đấu, hy sinh.

Năm 2009, gia đình bất ngờ nhận được cuộc gọi thông báo: tên của liệt sĩ Trần Lộc đã được trang trọng khắc trên bia tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ Tàu C235.

Điều họ mong vẫn là một nơi có thể dừng chân, thắp hương và gọi đúng tên cha mình.

Từ khoảng không gian tưởng niệm ấy tới phần mộ thực sự của cha vẫn là một khoảng trống.

Dòng tên cha trên bia đá giúp những người con tìm thấy một điểm tựa tinh thần để hướng về.

Dòng tên trên bia đá giúp hai chị em bà Nhung có một địa chỉ để tưởng nhớ cha. Nhưng phần mộ của ông ở đâu, đến nay gia đình vẫn chưa xác định được. Điều họ mong mỏi là có thêm căn cứ để tìm kiếm, đối chiếu và nhận diện hài cốt người thân.

Cuộc tìm kiếm ấy còn có bà Trần Thị Châu (sinh năm 1953), em gái út liệt sĩ Trần Lộc, hiện sống tại Biên Hòa, Đồng Nai. Bà kể từng nhiều lần cùng gia đình trở lại Hòn Hèo và nghe người dân Ninh Vân kể về một ngôi mộ tập thể được cho là chôn năm chiến sĩ tàu không số, đến nay vẫn được người dân hương khói.

Bà Châu không nhớ ai đã kể, cũng chưa biết ngôi mộ nằm ở đâu. Dẫu chưa thể xác thực thông tin ấy, bà vẫn mong có người tìm hiểu, chỉ rõ nơi chôn cất để gia đình có thêm một đầu mối lần tìm người anh đã hy sinh.

Các thân nhân liệt sĩ bên đài tưởng niệm tàu không số C235. (Ảnh: Xuân Tùng/Báo Tiền phong)

Các thân nhân liệt sĩ bên đài tưởng niệm tàu không số C235. (Ảnh: Xuân Tùng/Báo Tiền phong)

Từ bài báo nhắn tin nối lại tình thân ở Điện Thắng, chiếc nón lá theo mẹ con bà Yến vượt biển năm nào, lá thư đã rách được dán lại lưu giữ lời dặn của người cha, đến thông tin về ngôi mộ tập thể được cho là chôn cất năm chiến sĩ... Mỗi câu chuyện là một mảnh ký ức được những người ở lại gìn giữ qua hơn nửa thế kỷ. Những chuyến trở về Hòn Hèo không chỉ giúp các gia đình lần theo dấu tích người thân mà còn đưa họ đến gần nhau hơn, cùng tiếp nối cuộc tìm kiếm còn dang dở.

Dẫu đã tìm được nơi cha chiến đấu, hy sinh, họ vẫn chưa biết chính xác hài cốt người thân đang ở đâu. Những phần mộ chưa rõ danh tính, những địa điểm chôn cất được nhắc tới trong lời kể và các cuộc quy tập sau chiến tranh vẫn còn nhiều điều cần làm sáng tỏ. Đó cũng là nỗi khắc khoải theo những người con qua mỗi lần trở lại Hòn Hèo.

Trên hành trình ấy, các gia đình không đơn độc. Bên những gành đá Hòn Hèo lộng gió, có những người dân qua nhiều năm lặng lẽ nhặt giữ di vật chiến tranh, dựng nơi thờ tưởng niệm, chăm nom hương khói và đón những người thân từ phương xa tìm về. Giữa những khoảng trống chưa thể lấp đầy về nơi yên nghỉ của các liệt sĩ, sự tận tụy ấy đã góp phần gìn giữ ký ức về Tàu C235 qua nhiều thế hệ.

(Còn nữa)

Ngày xuất bản: Tháng 10/2026
Thực hiện: Tùng Quang-Hoàng Nhật-Hồng Vân-Thùy Linh-Minh Thu
Ảnh: Thùy Linh
(Bài viết có sử dụng tư liệu của các nhân vật cung cấp)

Bài 1: Những người cuối cùng rời Tàu C235
Bài 2: Những ngôi mộ không tên