Khơi thông thể chế, tạo động lực phát triển chuỗi giá trị dầu khí-năng lượng mới

Trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng và yêu cầu phát triển xanh ngày càng cấp bách, ngành dầu khí Việt Nam đang đứng trước thời điểm mang tính bước ngoặt. Không chỉ đối mặt với sự suy giảm của các nguồn tài nguyên truyền thống, ngành còn phải thích ứng với xu thế năng lượng sạch, giảm phát thải và cạnh tranh toàn cầu.

Tích cực triển khai các kế hoạch và lộ trình chuyển đổi năng lượng. (Ảnh: PVN)
Tích cực triển khai các kế hoạch và lộ trình chuyển đổi năng lượng. (Ảnh: PVN)

Theo các chuyên gia, hoàn thiện thể chế, tháo gỡ các rào cản về cơ chế, chính sách sẽ là chìa khóa để mở ra không gian phát triển mới, hình thành chuỗi giá trị năng lượng hiện đại, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và tạo động lực tăng trưởng trong giai đoạn mới.

Mở không gian phát triển từ chuỗi giá trị năng lượng mới

Thế giới đang bước vào giai đoạn chuyển dịch năng lượng với tốc độ chưa từng có. Những biến động địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, mục tiêu trung hòa carbon cùng sự phát triển nhanh của công nghệ năng lượng sạch đang làm thay đổi sâu sắc cấu trúc ngành năng lượng toàn cầu.

Đối với Việt Nam, yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng không còn đơn thuần là duy trì nguồn cung, mà còn phải gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và thực hiện cam kết phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050.

dsc-465120260630172116-5961.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam phát biểu.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam, ngành dầu khí-năng lượng đang chịu tác động đồng thời của nhiều sức ép. Bên cạnh biến động địa chính trị và yêu cầu giảm phát thải, nhiều mỏ dầu khí chủ lực đã bước vào giai đoạn suy giảm tự nhiên, trong khi các dự án mới ngày càng khó khăn hơn về kỹ thuật, công nghệ và nguồn vốn.

Tuy nhiên, thách thức cũng mở ra cơ hội để ngành tái cấu trúc theo hướng mở rộng sang các lĩnh vực giàu tiềm năng như: LNG, điện khí, điện gió ngoài khơi, hydrogen, thu hồi và lưu giữ carbon (CCS/CCUS) cũng như các dịch vụ kỹ thuật chất lượng cao. Theo ông, đây không còn là những định hướng mang tính dài hạn mà đã trở thành yêu cầu phát triển cấp thiết nhằm duy trì vai trò của ngành dầu khí trong bối cảnh mới.

Cùng quan điểm, ông Trịnh Quốc Tuy, Chuyên viên cao cấp Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương cho rằng, ngành dầu khí cần chuyển từ tư duy phát triển dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên sang phát triển hệ sinh thái năng lượng tích hợp.

Theo đó, cùng với nhiệm vụ bảo đảm an ninh năng lượng, Petrovietnam cần tập trung vào sáu vấn đề chiến lược gồm: ứng phó biến động địa chính trị; phát triển điện gió ngoài khơi, hydrogen xanh và công nghệ thu hồi carbon; tìm kiếm động lực tăng trưởng thay thế các mỏ truyền thống đang suy giảm; phát triển hạ tầng phục vụ nền kinh tế số; đồng thời đổi mới quản trị và nâng cao năng lực công nghệ.

Muốn thực hiện được những mục tiêu này, điều kiện tiên quyết là phải tiếp tục hoàn thiện thể chế, đồng bộ hóa các quy định pháp luật và xây dựng cơ chế đủ linh hoạt cho những lĩnh vực năng lượng mới.

Khơi thông thể chế để tạo động lực phát triển

Theo các chuyên gia, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không nằm ở tiềm năng tài nguyên hay năng lực doanh nghiệp mà ở khuôn khổ pháp lý chưa theo kịp yêu cầu phát triển.

dsc-470620260630172048-7572.jpg
Theo ông Trần Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Dầu khí và Than, Bộ Công thương: Cần hoàn thiện thể chế, sửa đổi Luật Dầu khí và Luật Điện lực, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho doanh nghiệp.

Ông Trần Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Dầu khí và Than (Bộ Công thương) cho rằng, ngành dầu khí-năng lượng đang đứng trước áp lực kép khi vừa phải đáp ứng mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số trong giai đoạn 2026-2030, vừa thực hiện cam kết phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050. Trong khi đó, Việt Nam đã trở thành nước nhập khẩu ròng năng lượng, nhu cầu tiêu thụ tiếp tục tăng nhanh nhưng các mỏ dầu khí lớn đều suy giảm sản lượng. Các phát hiện mới chủ yếu là mỏ nhỏ, cận biên, nằm ở vùng nước sâu, xa bờ với chi phí đầu tư và rủi ro cao.

Bên cạnh đó, hạ tầng năng lượng vẫn thiếu đồng bộ; khung pháp lý cho các lĩnh vực mới như điện gió ngoài khơi, hydrogen, amoniac hay CCS chưa hoàn thiện; việc huy động nguồn vốn rất lớn cho chuyển dịch năng lượng cũng đặt ra nhiều thách thức.

Theo ông Tùng, việc sửa đổi Luật Dầu khí, Luật Điện lực theo hướng đơn giản hóa thủ tục, tạo cơ chế đặc thù cho các mỏ cận biên, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và tận dụng hạ tầng dầu khí hiện có để phát triển năng lượng xanh sẽ góp phần khơi thông nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Đồng thời, phát triển đồng bộ hạ tầng năng lượng, thúc đẩy chuyển đổi số, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tạo điều kiện để doanh nghiệp triển khai các dự án năng lượng mới.

Ở góc độ doanh nghiệp, ông Vũ Đào Minh, Phó Tổng Giám đốc Petrovietnam cho biết, Tập đoàn đang đặt mục tiêu trở thành doanh nghiệp công nghiệp-năng lượng có năng lực cạnh tranh trong khu vực và quốc tế, đóng vai trò nòng cốt trong bảo đảm an ninh năng lượng và dẫn dắt quá trình chuyển dịch năng lượng của Việt Nam. Hiện, Petrovietnam sở hữu quy mô tài sản gần 1,2 triệu tỷ đồng, doanh thu tương đương khoảng 9-10% GDP. Tập đoàn đặt mục tiêu gia nhập Fortune Global 500 vào năm 2030; đến năm 2050 đạt doanh thu từ 80-100 tỷ USD, trong đó hơn một nửa sản lượng đến từ các nguồn năng lượng phát thải thấp.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, Petrovietnam xác định hai nhóm giải pháp trọng tâm. Trước hết là đổi mới từ nội lực thông qua duy trì sản lượng khai thác, đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm như: chuỗi khí-điện Lô B-Ô Môn; thúc đẩy chuyển đổi số theo định hướng "AI-First"; tăng đầu tư cho nghiên cứu-phát triển (R&D) và xây dựng các trung tâm công nghiệp-năng lượng tích hợp nhằm tối ưu hạ tầng và chuỗi giá trị.

Song song với đó, tiếp tục hoàn thiện Luật Dầu khí theo hướng linh hoạt hơn đối với các mỏ nhỏ, cận biên; xây dựng cơ chế "luồng xanh" cho các dự án năng lượng chiến lược; triển khai cơ chế thử nghiệm (sandbox) đối với hydrogen, điện gió ngoài khơi và thị trường carbon,...

Có thể thấy, trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, ngành dầu khí Việt Nam không chỉ đứng trước thách thức mà còn có cơ hội hình thành những động lực tăng trưởng mới. Việc khơi thông thể chế, hoàn thiện chính sách và tạo dựng môi trường đầu tư thuận lợi sẽ là nền tảng quan trọng để phát triển chuỗi giá trị dầu khí-năng lượng hiện đại, thúc đẩy các lĩnh vực như LNG, điện gió ngoài khơi, hydrogen và công nghệ thu hồi carbon, qua đó góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững.

Có thể bạn quan tâm