Khơi dậy tiềm năng sáng tạo trong thăm dò, khai thác dầu khí

Giá dầu thế giới giảm sâu và có nhiều biến động, giá các dịch vụ cũng như vật tư thiết bị phục vụ cho ngành thăm dò, khai thác (TDKT) dầu khí giảm quá chậm thì việc tìm ra giải pháp nhằm giảm chi phí phát triển mỏ để bảo đảm tính hiệu quả kinh tế của đề án, nhất là đối với các mỏ vừa và nhỏ là nhiệm vụ hàng đầu, cấp bách của ngành Dầu khí.

Niềm vui của tập thể lãnh đạo, kỹ sư và công nhân Tổng Công ty Thăm dò và Khai thác dầu khí (PVEP) khi mỏ Đại Hùng khai thác trở lại.
Niềm vui của tập thể lãnh đạo, kỹ sư và công nhân Tổng Công ty Thăm dò và Khai thác dầu khí (PVEP) khi mỏ Đại Hùng khai thác trở lại.

Trong bối cảnh đó, những năm qua, phong trào sáng kiến, sáng chế (SKSC) ở Tổng công ty Thăm dò và Khai thác dầu khí (PVEP) thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) đã đóng vai trò hết sức quan trọng, tiết kiệm và làm lợi cho ngân sách nhà nước hàng trăm triệu USD, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh.

Ðem lại hiệu quả kinh tế lớn

Với đặc thù hoạt động của PVEP, các SKSC đều có chất lượng tốt, được áp dụng ngay vào thực tế, mang lại hiệu quả kinh tế cũng như lợi ích xã hội thiết thực, góp phần quan trọng khắc phục những khó khăn trong sản xuất, giảm thiểu thời gian phải dừng hoạt động, bảo vệ môi trường, tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Tổng giá trị làm lợi do áp dụng sáng kiến và giải pháp của PVEP từ năm 2012 đến nay ước tính đạt gần 753,9 triệu USD (khoảng 16 nghìn tỷ đồng). Trong đó, năm 2012 hơn 618,8 triệu USD; năm 2013 hơn 51,8 triệu USD; năm 2014 hơn 73,1 triệu USD và quý I năm 2015 hơn 10,1 triệu USD. Trong số các sáng kiến của PVEP thì có bốn sáng kiến được công nhận là sáng kiến cấp Tập đoàn và một sáng kiến đoạt giải ba Giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam (VIFOTEC) năm 2013.

Trong đó, nổi bật là sáng kiến phương pháp kết nối mỏ tại dự án phát triển mỏ Hải Sư Ðen/Hải Sư Trắng của Thăng Long JOC với Tê Giác Trắng của Hoàn Long JOC của nhóm tác giả Công ty liên doanh điều hành chung Hoàng Long Hoàn Vũ (HLHV JOC). Với công nghệ phát triển các mỏ khai thác bằng phương án kết nối này khi đưa vào khai thác chỉ sử dụng một hệ thống xử lý, trữ và xuất bán thay vì phải sử dụng nhiều hệ thống đồng thời cùng một lúc. Bằng việc sử dụng chung hệ thống công nghệ trong quá trình khai thác các mỏ gần nhau của hai công ty đã mang lại lợi ích kinh tế khoảng 600 triệu USD - một con số cực kỳ ấn tượng cho các đối tác đầu tư. Thông thường, để một mỏ dầu hoạt động độc lập thì phải đầu tư khoảng một tỷ USD (không tính chi phí thăm dò) nhưng nếu dùng chung hạ tầng giữa các mỏ thì tiết kiệm khá lớn, tăng hiệu quả sử dụng thiết bị. Mô hình này đã được áp dụng tại các dự án khai thác tiếp theo của PVEP. Ðể đi tới thành công này là cả một chặng đường gian nan ròng rã hai năm trời "đấu tranh nảy lửa" với các chuyên gia nước ngoài trong liên doanh về mặt kỹ thuật. Có những ngày, lãnh đạo PVN, PVEP phải họp với đối tác nước ngoài (Talisman của Ca-na-đa) tới 18 lần để thuyết phục, chứng minh về kỹ thuật và hiệu quả kinh tế.

Còn đối với mỏ Sông Ðốc được Liên doanh điều hành Trường Sơn (TS JOC) đưa vào khai thác từ cuối năm 2008, sau 5 năm vận hành không hiệu quả như kỳ vọng, TS JOC đã dừng dự án và bàn giao lại mỏ cho Chính phủ Việt Nam từ tháng 11-2013. Ðược Chính phủ, Bộ Công thương và PVN tin tưởng giao nhiệm vụ tiếp nhận vận hành mỏ Sông Ðốc, với ý thức trách nhiệm, bằng tinh thần "dám nghĩ dám làm", PVEP đã xây dựng mô hình điều hành mới, thiết lập lại quy trình phù hợp. Ðiều quan trọng là lãnh đạo PVEP đặt trọn niềm tin vào đội ngũ kỹ sư của mình, mạnh dạn sử dụng nội lực, đưa anh em vào "thử lửa" rồi dần tiến hành thay thế toàn bộ chuyên gia nước ngoài bằng cán bộ điều hành, kỹ sư người Việt Nam. Với việc tiến hành đồng bộ các biện pháp đã giúp PVEP giảm chi phí vận hành mỏ tới 15% và chi phí quản lý hành chính tới 50% so TS JOC. Cùng với đó, PVEP đã phát động phong trào sáng kiến, cải tiến kỹ thuật để có nhiều giải pháp hợp lý hóa sản xuất, giảm chi phí, do đó đã tăng hiệu quả cho dự án. Ðiển hình là hai sáng kiến: "Nâng cấp chương trình điều khiển máy nén khí ga Lifr" và "Thay thế ống flexible điều khiển thủy lực cao áp tới các van an toàn trên đầu giếng bằng loại ống thép tubing 1/2 inch". Qua đó, đã làm lợi trực tiếp cho dự án 250 nghìn USD, nhất là giảm thời gian dừng sản xuất do lỗi kỹ thuật, góp phần bảo đảm thời gian sản xuất liên tục của mỏ Sông Ðốc, không xảy ra bất kỳ một sự cố hay tai nạn lao động nào, đóng góp ngân sách quốc gia hàng chục triệu USD, đồng thời góp phần quan trọng giữ gìn chủ quyền biển đảo Tổ quốc. Hay như giải pháp ứng dụng công nghệ ly tâm để tách nước trong dầu nặng tại Lô 67 (Pê-ru) lại được triển khai từ ý tưởng công nghệ tách nước trong sản xuất dầu ăn, nhờ đó tiết kiệm chi phí hoạt động hằng năm ba triệu USD so công nghệ truyền thống...

Phó Tổng Giám đốc Thường trực PVEP, Chủ tịch Hội đồng SKSC PVEP TS Ngô Hữu Hải khẳng định: TDKT dầu khí đòi hỏi hàm lượng chất xám cao và luôn có sự gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học công nghệ tiên tiến hiện đại và hoạt động thực tế sản xuất. Những phát sinh và vấn đề thực tế sản xuất vừa là áp lực nhưng cũng là động lực cho việc nghiên cứu và phát huy SKSC. Các SKSC ở PVEP sau khi công nhận được khuyến khích tạo điều kiện ứng dụng ngay vào thực tế sản xuất. Nhờ đó, phong trào SKSC hợp lý hóa sản xuất của PVEP đã lan tỏa sâu rộng, hiệu quả, nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của toàn thể CBCNV, kể cả các chuyên gia, kỹ sư nước ngoài, trở thành nhân tố quan trọng đẩy mạnh phong trào thi đua lao động sáng tạo toàn Tổng công ty. Cũng theo TS Ngô Hữu Hải, điều quan trọng nhất của phong trào này đã tạo ra cho hơn 3.000 kỹ sư, công nhân quốc tế của PVEP vốn được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp, nay thêm ý thức làm việc chuyên tâm, cẩn trọng, nhờ đó, tính an toàn trong lao động sản xuất được nâng lên rất nhiều bởi ngành khai thác dầu khí có giá trị sản lượng lớn, mỗi ngày có thể thu về hàng triệu USD, song tiềm ẩn rủi ro rất lớn, chỉ một bất cẩn gây tai nạn lao động thì thiệt hại vô cùng lớn, có thể lên tới hàng tỷ, chục tỷ USD chưa kể hậu quả môi trường hết sức nặng nề. Ngành Dầu khí Việt Nam thường xuyên phải cập nhật những công nghệ TDKTdầu khí mới nhất, tiên tiến nhất thế giới. Nhờ vậy, đội ngũ kỹ sư, công nhân dầu khí có điều kiện nâng cao trình độ, nghiệp vụ, vươn lên ngang bằng với trình độ các nước tiên tiến. Nhờ đó mới có những kỳ tích như Công ty Ðiều hành chung Cửu Long (CuuLong JOC) khoan thành công giếng khoan SNN-3P đạt chiều dài thân giếng kỷ lục tại Việt Nam 7.300 m. Phần lớn, anh em thành thạo từ hai ngoại ngữ chính trở lên. Nhờ đó, họ đã nắm bắt, làm chủ công nghệ hiện đại và trong quá trình lao động, sản xuất dám nghĩ dám làm, cải tiến công nghệ, quy trình để phù hợp với điều kiện thăm dò, khai thác ở trong nước cũng như tại các dự án của PVEP ở nước ngoài.

Khơi dậy tiềm năng sáng tạo

Công tác khen thưởng, động viên các SKSC có ý nghĩa hết sức quan trọng. Từ năm 2012 tới nay, PVEP đã khen thưởng các sáng kiến, giải pháp với số tiền hơn 50 nghìn USD. TS Ngô Hữu Hải cũng thừa nhận, nếu tính toán giá trị quy ra tiền thì tỷ lệ tiền thưởng cho SKSC rất nhỏ bởi đây là quy định của Nhà nước. Nhưng lãnh đạo, anh em đều hiểu rằng, đối với những cây sáng kiến thì phần thưởng quan trọng nhất, ý nghĩa nhất nhiều khi là SKSC được công nhận giá trị, được tôn trọng, được tạo điều kiện để tỏa sáng. Ðiều này thì PVEP luôn thực hiện rất tốt hằng năm với những sự kiện, buổi lễ được tổ chức để vinh danh những cán bộ, công nhân viên có sáng kiến sáng chế. Ðồng thời những tác giả sáng kiến luôn được PVEP ghi nhận và đánh giá trong suốt cả quá trình công tác. Trong nghề thăm dò, khai thác dầu khí, sự "thăng hoa tỏa sáng" của mỗi cá nhân có thể đến bất cứ lúc nào. SKSC và tên của người đó được lưu danh trong ngành công nghiệp TDKT dầu khí của Việt Nam và thế giới. Ðó là vinh dự không tiền bạc nào có thể so sánh được.

Hiện PVEP có hẳn một Hội đồng SKSC hoạt động hết sức tích cực. Hội đồng sẽ tổ chức họp ngay khi nhận được đơn yêu cầu công nhận sáng kiến của cá nhân/đơn vị mà không chờ đợi theo lịch xét duyệt theo từng quý như trước đây. Hằng năm, các tác giả sáng kiến và đơn vị có thành tích tiêu biểu trong phong trào SKSC đều được PVEP vinh danh tại các hội nghị tổng kết hoặc các sự kiện lớn của Tổng công ty, khi đó các tác giả được Lãnh đạo PVEP trao tặng Giấy chứng nhận SKSC một cách trang trọng. Hội đồng còn đề xuất với Lãnh đạo Tổng công ty có những phần thưởng đối với tác giả/nhóm tác giả có các sáng kiến, giải pháp được Hội đồng công nhận và đã được PVEP đưa thành tiêu chí quan trọng và bắt buộc trong việc xét tặng các danh hiệu thi đua, khen thưởng đối với cá nhân và tập thể, cũng là một yếu tố tích cực trong việc xét nâng lương, đề bạt bổ nhiệm cán bộ... Những giải pháp, sáng kiến chưa đủ điều kiện công nhận sáng kiến cấp Tổng công ty thì Hội đồng SKSC vẫn ghi nhận và đề xuất thưởng khuyến khích cho tác giả/nhóm tác giả này và đề nghị nhóm tác giả tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và phát triển, đồng thời Hội đồng cũng sẽ xem xét bổ sung quy định trong quy chế quản lý các hoạt động SKSC đối với các giải pháp ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến đem lại hiệu quả sản xuất. Tới đây, Hội đồng SKSC sẽ xem xét đề xuất lãnh đạo Tổng công ty cho phép tổ chức các buổi gặp gỡ trao đổi trực tiếp với người lao động tại các cơ sở sản xuất và các đơn vị thành viên để Hội đồng có thể trực tiếp phát động, khuyến khích, lan tỏa phong trào SKSC tới từng người lao động, qua đó tạo mọi điều kiện tốt nhất để họ phát huy hết khả năng sáng tạo.

TDKT dầu khí tại Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung ngày càng được đầu tư nghiên cứu và phát triển tiên tiến, hiện đại hóa. Việc thăm dò phát hiện các mỏ mới có trữ lượng lớn là rất hiếm cho nên chủ yếu là tận thăm dò các mỏ đang khai thác, cải thiện nâng cao hệ số thu hồi dầu hoặc TDKT ở các vùng nước sâu, xa bờ, với các điều kiện khai thác ngày càng khó khăn hơn, chi phí cao hơn. Do vậy, ngoài việc đầu tư trang thiết bị hiện đại và phù hợp điều kiện TDKT mới thì ngay lập tức, ngành dầu khí cần có chiến lược đầu tư về nhân sự có chất lượng cao nhằm nắm bắt, làm chủ KHCN tiên tiến, đầu tư nghiên cứu cải tiến các công nghệ này cho phù hợp điều kiện sản xuất của Việt Nam.

Có thể bạn quan tâm