Mùa khô hạn
Ðiều làm đoàn chúng tôi áy náy mãi là hình ảnh các thầy cô giáo trường cấp 1, 2 xã Tả Lủng huyện Ðồng Văn trách khéo: "Thật tiếc, không biết các anh, chị có xe ô-tô vào xã để nhờ chở mấy can nước uống từ ngoài huyện vào, tiếc quá anh ạ".
Thầy giáo Nguyễn Thanh Giang, Phó Hiệu trưởng trường cấp 1, 2 Tả Lủng phân trần với tôi. Giá như không phải mua tám nghìn đồng một can nước thì mỗi ngày trường có thêm được 64 nghìn đồng mua thêm rau xanh vào bữa ăn cho các em học sinh bán trú.
Thầy Giang nói với tôi, bình quân mỗi ngày nhà trường dùng hết tám can nước loại 20 lít, để bảo đảm nhu cầu nước nấu ăn, nước uống cho thầy và trò nhà trường. Giá như và giá như! Câu nói ấy của thầy giáo Giang làm tôi ám ảnh mãi về miền đất khắc nghiệt này. Mà cao nguyên đá là thế, thiếu nước sinh hoạt đâu chỉ có riêng Tả Lủng.
Lên cao nguyên đá vào mùa khô bạn mới thấy được sự khắc nghiệt của thiên nhiên và điều khắc nghiệt đó chính là thiếu nước. Tài nguyên nước ở cao nguyên đá không nhiều, nhất là vào những tháng mùa khô. Ðây quả là một thách thức đối với người dân trên cao nguyên đá. Việc thiếu nước sinh hoạt, nước sản xuất quả là một bài toán nan giải.
Tới nhiều xã của hai huyện vùng cao núi đá Ðồng Văn, Mèo Vạc chỉ thấy đá và đá bạt ngàn. Cảnh thiếu nước sinh hoạt luôn hiện hữu khắp vùng cao nguyên, thực tế có hơn 90% đồng bào vùng cao núi đá phía bắc của tỉnh thiếu nước sinh hoạt vào mùa khô. Tỉnh Hà Giang đã thật sự cố gắng trong việc giải quyết nước sinh hoạt. Bằng chứng là tỉnh đã hỗ trợ các gia đình xây bể trữ nước. Tuy nhiên, biện pháp này vẫn chỉ là bể chứa nước, chưa đáp ứng được việc cung cấp nước, bởi như trên đã nói, nguồn nước nơi cao nguyên đá quá ít vào những tháng mùa khô.
Chúng tôi đến bản Xả Lủng, xã Tả Lủng, huyện Ðồng Văn. Càng thấy cảnh thiếu nước đối với người dân nơi đây thật sự gian khổ đến nhường nào. Nước ăn còn không đủ, nói gì đến tắm giặt hở các chú. Ông Thào Mí Giàng phân trần với tôi. Nhìn mấy đứa cháu của ông lâu ngày không được tắm, ghét cáu lại trên tay, chân, trông thật thương! Biết làm sao được, tất cả là thiếu nước mà. Ông Giàng xua xua tay gạt những sợi tóc bạc trên trán, rồi buông lời: Cao nguyên mùa khô hạn là vậy, nhưng đồng bào mình mãi không bỏ cao nguyên mà đi đâu. Ðến mùa mưa cao nguyên lại hồi sinh mà...
Chiều tà, trên đường về phố thị, đi trên những cung đường quanh co tôi thấy duy chỉ có những cây cải đắng mọc trên những hốc đá vẫn lên xanh trong những cơn gió đông lạnh lẽo. Tôi tự nhủ, cao nguyên đá không hẳn đã khô hạn. Bằng chứng là cây cải vẫn lên xanh đấy thôi! Anh Phạm Minh Giang, Trưởng phòng Quản lý khoa học - Sở Khoa học và Công nghệ Hà Giang nói với tôi: Cao nguyên đá mùa khô hạn đã được giải quyết một phần rất lớn rồi. Tất cả là nhờ nguồn nước các-xtơ (Karst) lộ đấy.
Công nghệ "hồ treo"
Ðúng là niềm vui cho miền đất khát! Tôi cầm trên tay bản vắn tắt đề tài "Ðiều tra nghiên cứu các nguồn nước các-xtơ khu vực Nà Phạ (xã Mậu Duệ - huyện Yên Minh) lựa chọn, thiết kế mô hình khai thác". Ðề tài được xếp vào loại xuất sắc của tiến sĩ khoa học Vũ Cao Minh, Viện Ðịa chất, Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ Quốc gia. Có lẽ, những người vui nhất chính là đồng bào cao nguyên đá. Bởi với họ nước chính là yếu tố sống còn để tồn tại và phát triển trên miền đất địa đầu Tổ quốc.
Chị Bùi Thị Nhung, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Giang cho biết: Với điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên trên các huyện vùng cao núi đá Hà Giang, việc phát hiện và xây dựng đề tài nghiên cứu nguồn nước các-xtơ thôn Nà Phạ, xã Mậu Duệ, nằm trên độ cao xấp xỉ 1.000 m nhằm mục tiêu giải quyết nước sinh hoạt cho các cụm dân cư quanh vùng, là một trong những giải pháp tích cực cung cấp nguồn nước đối với khu vực cao nguyên núi đá. Thứ hai, góp phần hình thành các giải pháp khoa học công nghệ tạo nguồn nước cho các vùng khó khăn về nước, cải thiện điều kiện sinh hoạt do thiếu nước. Thứ ba, cải thiện môi trường sinh thái và điều kiện sản xuất ở các xã Mậu Duệ huyện Yên Minh, Lũng Phìn, Hố Quáng Phìn, Sủng Trái huyện Ðồng Văn, Sủng Máng huyện Mèo Vạc...
Theo kết quả khảo sát nghiên cứu thực thi đề tài, nguồn nước Nà Phạ có các điểm xuất lộ nước, khởi phát từ độ cao 1.150 m đến 1.200 m chảy về và hợp lưu tại bản Nà Phạ, dưới độ cao 900 m thành suối Nà Phạ. Suối đổ vào hang các-xtơ chảy ngầm trong núi khoảng một km và thoát ra ở sườn thấp, rồi đổ vào sông Nhiệm.
Nguồn nước thường xuyên có lưu lượng 2 m3/giây. Lưu vực suối Nà Phạ trước khi chảy vào hang rộng gần 1,2 km2, mặt đệm thấm nước là đất đá ít thấm nước, lưu lượng nước thay đổi theo mùa. Tổng lượng nước ước tính khoảng một triệu m3/năm, chất lượng nước có thành phần hóa lý bảo đảm cho nhu cầu sinh hoạt. Các hàm lượng nitrat, nitrit, amoniac, nguyên tố vi lượng đều rất nhỏ so với tiêu chuẩn cho phép.
Theo đánh giá của các chuyên gia Viện Ðịa chất, với trữ lượng nước gần một triệu m3/ năm, việc xây dựng hồ đập chứa nước ngay tại nguồn, có thể khai thác hết công suất nước, cung cấp nước sinh hoạt cho khoảng hai đến ba vạn người. Từ đó, kết hợp với phát triển kinh tế tập trung ở khu giáp ranh giữa ba huyện Yên Minh, Ðồng Văn, Mèo Vạc ổn định được cuộc sống lâu dài. Ngoài ra có thể quy hoạch nơi đây thành cụm dân cư kinh tế có ý nghĩa lớn cho sự phát triển bền vững của cả vùng cao nguyên đá.
Thực tế đề tài đã thành công ngoài mong đợi của các nhà khoa học, cũng như chính quyền tỉnh Hà Giang. Giải pháp xây dựng công nghệ hồ chứa, hồ dâng với kỹ thuật thi công hồ thượng lưu là đắp đập, dùng trũng các-xtơ để chứa nước. Biện pháp kỹ thuật chủ yếu là chống mất nước qua các hang hốc các-xtơ, hố sụt các-xtơ đã góp phần quan trọng trong việc cải thiện điều kiện thiếu nước sinh hoạt và sản xuất cho người dân trên cao nguyên đá.
Giải pháp về công nghệ hoàn thiện quy trình cung cấp nước và trữ nước trong mùa khô hạn mang ý nghĩa lớn trong phát triển kinh tế - xã hội của các huyện vùng cao núi đá. Trong những năm qua, với công nghệ này, tỉnh Hà Giang đã triển khai thăm dò và xây dựng thử nghiệm "hồ treo" Xà Phìn tại bản Xà Phìn B, xã Xà Phìn, huyện Ðồng Văn, với dung tích khoảng 3.000 m3, bằng các giải pháp kỹ thuật đáy và thành hồ được gia cố, bảo đảm không bị đục hoặc thẩm thấu. Hồ được xây dựng ngay cạnh đường đi Ðồng Văn, có hình trái tim được thiết kế rất thẩm mỹ và hiệu quả.
Việc thử nghiệm hồ Xà Phìn thành công đã tạo động lực cho các nhà khoa học tiếp tục đề xuất xây dựng công trình hồ treo Tả Lủng vào năm 2005 tại xã Tả Lủng huyện Mèo Vạc. Hồ có dung tích 30 nghìn m3. Ðể tạo mặt bằng của đáy hồ, những người xây dựng đã phá, nổ hơn 1.000 m3 đá vôi, hàng chục giếng, hang ngầm có đường kính từ 0,5 đến 1 m, sâu từ 5 đến 10 m được san lấp và gia cố bằng vật liệu chống thấm. Xây dựng đập chắn nước cao 5 m, rộng 3 m, dài hơn 50 m bằng đá tảng. Với việc tạo dáng hồ như vầng trăng khuyết, biến hồ treo như một hạt ngọc trong xanh giữa cao nguyên bạt ngàn đá.
Theo tính toán của chuyên gia Viện Ðịa chất học, nếu tận dụng tất cả các điều kiện tự nhiên, đặc điểm thành phần vật chất của các địa tầng, các tầng cấu trúc địa chất, địa hình, thủy văn, địa chất công trình, công nghệ "hồ treo" có thể cung cấp nước cho tất cả người dân sống trên cao nguyên đá bình quân 150 lít nước/người/ngày. Hiệu quả tất nhiên là sẽ cải thiện được nguồn nước sinh hoạt và sản xuất cho người dân.
Nói về những thành công của công nghệ hồ treo mà người dân Ðồng Văn được hưởng lợi. Chủ tịch huyện Ðồng Văn, ông Sùng Ðại Hùng cho biết: Trong những năm tới, việc khảo sát những địa điểm có nguồn nước để xây dựng hồ treo chứa nước là biện pháp tích cực, góp phần quan trọng giải quyết nước sinh hoạt và sản xuất cho đồng bào. Ðây cũng chính là động lực để ổn định, phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững của các xã vùng cao núi đá của huyện.
Lên cao nguyên đá mỗi chuyến công tác vào mùa khô, hình ảnh làm chúng tôi ấn tượng nhất là bên những bể nước ven đường, cư dân cao nguyên đang được hưởng dòng nước trong sạch. Cảnh tấp nập người gánh nước, người giặt giũ, trẻ em vui đùa, tắm gội đã làm vơi đi những "cơn khát" do thiếu nước trên vùng núi đá tai mèo khắc nghiệt.
Tin vui cho đồng bào khắp vùng cao nguyên đá, sau chuyến thăm Hà Giang và trực tiếp thị sát các huyện vùng cao núi đá Ðồng Văn, Quản Bạ, Mèo Vạc, Yên Minh, trong đó có việc xem xét cấp nước sinh hoạt cho người dân, Thủ tướng Chính phủ đã công nhận kết quả thành công của hai hồ treo thử nghiệm ở hai xã Tả Lủng và Xà Phìn và đồng ý cho xây dựng 30 hồ chứa nước bằng giải pháp công nghệ "hồ treo" tại các huyện này với tổng kinh phí khoảng 90 tỷ đồng, bằng ngân sách nhà nước.
Cao nguyên mùa gieo hạt, những nương ngô vươn mình, lá xanh biêng biếc như nét chấm phá giữa bạt ngàn núi đá xám xịt, tương phản một sức sống diệu kỳ. Cao nguyên mùa khô rất cần nước. Vâng, nước là phần tất yếu của cuộc sống! Những hồ treo bên những cung đường tôi đi qua đang ngày đêm tích trữ những giọt nước ngầm quý giá cho người dân cao nguyên.
Ðúng vậy, công nghệ hồ treo, ngoài sự ghi nhận về một giải pháp khoa học công nghệ, đã và đang góp phần "giải cứu" cho miền đất khát cao nguyên đá Hà Giang.