Là một trong 13 kỹ sư khóa 9 của các Trường đại học Bách khoa, Xây dựng và Mỏ địa chất được gọi nhập ngũ, tham gia khảo sát và mở tuyến, chúng tôi thường đi cắt rừng theo phương vị hoặc men theo dòng suối, vượt đỉnh núi theo phân thủy. Những người lính khảo sát phải vượt qua núi cao, suối lũ, các trọng điểm đánh phá ác liệt của địch. Có khi những cơn sốt rét kéo đến giữa lúc cả nhóm đi trên đỉnh núi cheo leo, cõng hoặc cáng không được, đành dừng lại, đắp khăn ướt lên trán, uống mấy viên thuốc cho hạ sốt rồi cố dìu nhau đi tiếp, ai không thể đi được thì phải gửi lại một đơn vị dọc đường. Có một lần trên tuyến K7-K8, tôi lên cơn sốt cao, bạn bè đã mang giúp súng, gạo, tôi chỉ còn khoác ba-lô, vậy mà bước chân vẫn run rẩy. Cho đến khi mắt hoa lên, tôi ngã rơi xuống vách đá. May mà giữa rừng già, cây cối rậm rạp nên tôi rơi lên một cây bống báng (loại cây gần giống cây dừa), đồng đội lại lần xuống, dìu lên. Một lần khác, khi tìm tuyến tránh, leo lên Ðỉnh 900, chúng tôi phải vượt qua bãi bom B52 địch mới đánh ngày hôm trước, chỉ còn lại những gốc cây bị bom chặt ngang trơ lại trên sườn dốc, với đất bột và đá nát vụn. Chúng tôi bám vào những gốc cây đó mà đi. Chỉ cần tuột tay là lăn xuống vực. Dưới đấy, dòng suối đục ngầu, nhỏ như sợi chỉ...
Trận bom B52 nặng nề nhất mà Công trường 18B phải chịu đựng là ở suối Ra Vơ cạnh đường 18. Hôm ấy, các đại đội của Tiểu đoàn 37 đang vác ống, cùng đoàn cán bộ của công trường hành quân vào vị trí tiền phương thì bom B52 đánh vào giữa đội hình. Hơn 70 đồng chí hy sinh và bị thương. Ðào Quang Nghiêm (kỹ sư cơ khí) xông pha trong khói lửa cứu đồng đội. Khi nhận Bằng khen về thành tích này, anh không dám gửi về nhà vì anh là con một, sợ mẹ lo. Võ Thủ Thành (kỹ sư cơ khí) bao ngày nằm hầm bám trụ ở nơi ác liệt nhất của trọng điểm Ra Vơ, Ðỉnh 900 - tuyến cửa khẩu đường 18. Nguyễn Hữu Dư (kỹ sư trắc địa) sau một trận B52 bị lạc, đã một mình vượt qua mưa lũ, bão rừng, tìm về đơn vị...
Cán bộ kỹ thuật đường ống Trường Sơn thường là những người đầu tiên nếm trải sự ác liệt của mỗi tuyến đường ống. Những đồng đội tôi như Sơn, Lạc, Cát, Lành đã hy sinh khi làm nhiệm vụ. Hầu hết các kỹ sư đều ít nhiều thương tích. Kỷ niệm đau lòng nhất trong tôi là cái chết của anh Quy, cán bộ trung cấp kỹ thuật người Thanh Hóa, Trạm trưởng trạm bơm ở Ka Tần. Khi phát hiện bom địch đánh đứt tuyến, anh lao ra nối ống, khi đang thao tác thì một dòng xăng trong ống bất ngờ phun ra, tưới khắp người, xăng ngập đầy cái vũng anh đứng. Và chính lúc ấy, một loạt bom dội tiếp, nơi anh đứng trở thành biển lửa. Ðồng đội nhìn thấy xót xa, đau đớn tột đỉnh mà không sao cứu được.
Lần đầu tôi chôn cất đồng đội là trong đợt khảo sát tuyến cửa khẩu đường 18. Bốn anh em Sơn, Lạc, Diệu, Hậu ngủ lại trong một "nhà âu" ai đó đã đào sẵn. Khoảng 21 giờ, chúng tôi bị "dính" bom tọa độ. Một quả bom nổ trên ngọn cây ngay gần chỗ chúng tôi nằm. Dứt loạt bom, nghe tiếng Lạc thảng thốt: "Các anh ơi, em bị rồi". Dưới ánh đèn pin, chúng tôi nhận ra đùi của Lạc dập nát. Chúng tôi bắn ba phát súng báo hiệu, rồi cáng Lạc đến trạm xá. Ðến nửa đêm Lạc hy sinh. Cả Diệu và anh Sơn đều bị thương phải đưa đi trạm xá nên tôi ở lại với Lạc trong một cái lán giữa rừng. Lũ vây hết mọi ngả đường. Trong cái lán nhỏ chỉ có một mình. Tôi vuốt mắt và tự khâm liệm cho Lạc. Thương quá, cậu bé 19 tuổi, môi đỏ, da trắng, mắt long lanh, anh em thường bắt đóng vai con gái trong các vở kịch. Mới đêm qua còn ríu rít, mà bây giờ đã mãi mãi ra đi.
Năm 1969, đoạn tuyến ống trên đường 18 vượt Trường Sơn qua Ðỉnh 900 cứ lắp xong chưa vận hành đã bị địch đánh. Tìm tuyến tránh khác, có khi mới phát tuyến xong đã bị B52 rải thảm. Thương vong cộng với sốt rét đã làm vơi hẳn quân số công trường, nhất là Tiểu đoàn 668 - đơn vị trực tiếp thi công và quản lý đoạn tuyến này. Tốp cán bộ kỹ thuật vẫn quyết tâm không chịu bó tay. Chúng tôi quyết định chọn Ðỉnh 911 - đỉnh cao nhất khu vực ấy, chắc chắn địch sẽ bị bất ngờ vì chúng cho rằng, đường ống dẫn dầu không thể bò qua đó được. Tính toán và thấy các yếu tố kỹ thuật cho phép, chúng tôi đề nghị với Ban Chỉ huy Công trường 18B và được chấp nhận.
Mùa khô năm 1970-1971, các đoạn tuyến đường ống từ kho đầu nguồn ở Quảng Bình vào đến nam Ðường 9 đều bị đánh phá ác liệt, ống bị đánh đứt, xăng chảy, nhiều đồng chí hy sinh. Có những đoạn, chỉ huy mới có ý định vạch tuyến thì đã bị B52 cày đi xới lại. Bom đạn, sốt rét đã làm vợi quân số tiểu đoàn. Các tổ khảo sát tuyến cũng hao hụt lực lượng do hy sinh khi làm nhiệm vụ. Chính trong hoàn cảnh gian khổ ác liệt ấy, tôi thầm hiểu được tình đồng đội sâu sắc của những người chỉ huy như anh Mai Trọng Phước, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 592. Nhiều đêm thức trắng vì công việc, anh vẫn có mặt ở những nơi ác liệt để động viên cán bộ, chiến sĩ, thăm hỏi thương binh. Tôi nhớ mãi buổi sáng khi tổ khảo sát tuyến của chúng tôi ra đến cổng đơn vị thì anh Phước gọi lại. Anh đang lên cơn sốt rét, nhưng vẫn chống gậy ra gặp chúng tôi. Anh đưa cho chúng tôi hai lọ sâm viên, loại thuốc chỉ phát cho cán bộ cấp trung đoàn trở lên, rồi nói: "Chuyến đi này vất vả và ác liệt lắm, các cậu hãy cố gắng. Ðứa nào mệt quá thì ngậm viên thuốc này mà lấy sức". Nhìn nước da tái xám, vẻ mặt hốc hác vì ốm, vì lo nghĩ công việc của anh mà cả tổ khảo sát của tôi đều lặng người đi vì xúc động. Chuyến khảo sát ấy, mặc dù phải vượt qua những trận B52 ác liệt và phải gửi hai đồng chí lại một bản ven đường do bị sốt rét ác tính, nhưng chúng tôi đã chọn đúng một tuyến mà kẻ địch không ngờ tới. Nhờ tuyến đó mà Trung đoàn đã đưa xăng vượt qua cửa khẩu ác liệt nhất.
Thiếu tướng Hồ Sĩ Hậu Nguyên Phó Trưởng
ban thiết kế thi công Cục xăng, dầu, Ðoàn 559