Ðẩy nhanh tiến độ thi công các dự án
Ðến đầu năm 2007, trên địa bàn tỉnh Quảng Nam có 46 dự án thủy điện đã được phê duyệt quy hoạch với tổng công suất hơn 1.500 MW, tổng vốn đầu tư gần 35 nghìn tỷ đồng. Trong đó có tám dự án thủy điện lớn quy hoạch bậc thang với tổng công suất 1.185 MW và 38 dự án thủy điện vừa và nhỏ công suất gần 400 MW. Ngoài ra, tỉnh đang tổ chức khảo sát lập báo cáo để xin phép đầu tư bổ sung 11 dự án chưa có trong quy hoạch. Hầu hết các dự án thủy điện tập trung trên địa bàn các huyện miền núi Nam Giang, Ðông Giang, Nam Trà My, Bắc Trà My. Trong tổng số tám công trình thủy điện bậc thang đã có bốn công trình khởi công xây dựng là thủy điện A Vương, Sông Tranh 2, Ðác Mi 4, Sông Côn 2. Các dự án thủy điện vừa và nhỏ hiện có hai dự án hoàn thành và phát điện, năm dự án đã khởi công xây dựng, các dự án còn lại đang trong quá trình hoàn thiện thủ tục chuẩn bị đầu tư.
Ông Trần Văn Hải, Trưởng ban quản lý Dự án Thủy điện 3 thuộc Tập đoàn Ðiện lực Việt Nam ( EVN), một trong những chủ đầu tư nhiều dự án thủy điện ở Quảng Nam cho biết: Hiện nay, trên địa bàn Quảng Nam EVN đang đầu tư sáu dự án thủy điện có công suất từ 100 MW đến hơn 200 MW như Thủy điện A Vương, Sông Tranh 2, Sông Bung 2, 4, 5, Ðác Mi 1, trong đó có hai công trình đang xây dựng là A Vương và Sông Tranh 2, các công trình khác đang lập kế hoạch xây dựng. Riêng công trình thủy điện A Vương được khởi công từ tháng 8-2003 và dự kiến hoàn thành đưa vào hoạt động trong năm 2008. Ðây là một trong những công trình lớn được khởi công xây dựng sớm ở Quảng Nam có công suất 210 MW với tổng vốn đầu tư gần 4.000 tỷ đồng. Ðồng chí Phạm Phong, Giám đốc Công ty Ðầu tư và Phát triển điện Sông Ba phấn khởi cho biết: Trong tổng số hai công trình thủy điện ở Quảng Nam do chúng tôi làm chủ đầu tư, đã có một công trình hoàn thành và phát điện, công trình còn lại đang thi công, phấn đấu hoàn thành vào năm 2010. Trong quá trình triển khai đầu tư xây dựng, từ khâu lập dự án đến thi công, chúng tôi được các cơ quan chức năng trong tỉnh ủng hộ, tạo mọi điều kiện thuận lợi, cho nên công việc tiến triển nhanh chóng, đúng tiến độ và không gặp một khó khăn trở ngại nào.
Công trình xây dựng thủy điện A Vương tại xã Mà Cooih, huyện Ðông Giang những ngày này thật nhộn nhịp. Cái nắng gay gắt của mùa hè miền trung không làm giảm đi không khí lao động khẩn trương của công trường. Từng đoàn xe chuyên chở vật liệu tấp nập nối đuôi nhau vào ra công trường, trên các hạng mục, công nhân đang miệt mài thi công để hoàn thành công trình đúng tiến độ. Tại chân đập chính, chúng tôi gặp kỹ sư Võ Duy Minh thuộc Tổng công ty xây dựng thủy điện 4, Phó Trưởng ban Chỉ huy công trình đang trực tiếp chỉ đạo phần đổ bê-tông đập tràn. Anh cho biết: Ðơn vị chúng tôi đảm nhận thi công phần đập chính của công trình, đây là một trong những hạng mục quan trọng với chiều cao gần 80m. Ðể thi công kịp tiến độ, đơn vị đã huy động 600 kỹ sư, công nhân cùng 38 xe, máy làm việc ngày đêm. Ðến nay, chúng tôi đã đổ gần 200 nghìn m3 bê-tông đầm lăn trên tổng số 270 m3 và 40 nghìn m3 trên tổng số 70 nghìn m3 bê-tông cốt thép, phấn đấu hoàn thành hạng mục đập tràn vào cuối năm nay...
Những vấn đề đặt ra
Có thể khẳng định rằng, việc triển khai xây dựng các công trình thủy điện ở Quảng Nam là chủ trương đúng đắn, hợp với ý Ðảng lòng dân, nhằm khai thác tiềm năng thủy điện, tăng sản lượng điện thương mại và góp phần điều tiết nước, ngăn lũ cho vùng hạ lưu sông Thu Bồn, Vu Gia vào mùa mưa. Tuy nhiên, quá trình đầu tư, thi công các dự án vẫn còn nhiều vấn đề cần tập trung giải quyết. Trước hết là công tác di dời dân, tái định cư vùng lòng hồ bị ngập để nhân dân ổn định cuộc sống và sản xuất. Chỉ tính ở hai công trình thủy điện A Vương và Sông Tranh 2 đã có hơn 1.300 hộ dân bị ảnh hưởng phải di dời đến nơi ở mới.
Riêng công trình thủy điện A Vương có hơn 300 hộ đồng bào dân tộc Cà Tu ở hai xã Dang và Mà Cooih thuộc huyện Ðông Giang nằm trong lòng hồ phải di dời. Năm 2005, Ban quản lý Dự án Thủy điện 3 cùng với chính quyền địa phương đã xây dựng ba khu tái định cư đưa dân vùng lòng hồ bị ngập vào sinh sống. Trong quá trình xây dựng, do sự phối hợp chưa chặt chẽ giữa chủ dự án và chính quyền địa phương trong việc tìm hiểu phong tục, tập quán của người dân, cho nên thiết kế xây dựng nhà ở cho nhân dân tại các khu tái định cư không phù hợp. Nhiều ngôi nhà được xây dựng liền kề san sát bên nhau trên một quả đồi được san ủi theo kiểu ruộng bậc thang, lại ở xa đất sản xuất, mùa khô nắng nóng, mùa mưa nơm nớp lo sợ bị sạt lở. Mặc dù, hiện nay chủ dự án đã tìm cách khắc phục những bất hợp lý, song về lâu dài, chính quyền địa phương cần có kế hoạch dãn dân tại các khu tái định cư kết hợp với quy hoạch vùng đất sản xuất để nhân dân ổn định cuộc sống lâu dài. Công tác di dời tái định cư cho gần 1.000 hộ dân tại công trình Thủy điện Sông Tranh 2 thuộc địa bàn hai huyện Nam Trà My và Bắc Trà My đang được chủ dự án và chính quyền địa phương triển khai thực hiện, nhưng hiện nay xảy ra tình trạng nhiều hộ dân sau khi nhận tiền đền bù, mỗi hộ từ vài ba chục triệu đồng đến hàng trăm triệu đồng đã tiêu xài vào việc mua xe máy, sắm điện thoại di dộng... mà không quan tâm đầu tư vào sản xuất, chuyển đổi nghề. Tình trạng này nếu không được khắc phục không những gây khó khăn cho cuộc sống sau này mà còn làm cho tình hình an ninh trật tự trên địa bàn thêm phức tạp. Tỉnh cần chỉ đạo chính quyền địa phương, nhất là các đoàn thể tuyên truyền vận động và hướng dẫn để người dân chăm lo cho cuộc sống gia đình, sử dụng đồng tiền hỗ trợ đúng mục đích như gửi tiết kiệm ngân hàng, đầu tư cho chăn nuôi, phát triển sản xuất để bảo đảm cuộc sống ổn định lâu dài. Công tác bảo vệ môi sinh môi trường ở các khu vực lòng hồ cũng cần được các cấp chính quyền quan tâm. Các cơ quan chức năng cùng với chính quyền địa phương tăng cường công tác kiểm tra giám sát công tác thiết kế cũng như cấp phép khai thác gỗ tại khu vực lòng hồ khi tiến hành xây dựng nhà máy, ngăn chặn tình trạng các đối tượng lợi dụng việc cấp phép khai thác gỗ trong lòng hồ để khai thác ra bên ngoài lòng hồ. Những công trình thủy điện có diện tích rừng bị ngập trong lòng hồ cần có kế hoạch đầu tư kinh phí để khôi phục lại diện tích rừng bị mất.
Hiện nay, tuy số lượng các dự án thủy điện trên địa bàn được phê duyệt quy hoạch với số lượng lớn, song có nhiều dự án công suất nhỏ. Trong tổng số 46 dự án, chỉ có tám dự án lớn, còn lại là các dự án vừa và nhỏ, trong đó có 16 dự án công suất dưới 5 MW, những dự án nhỏ thường ở xa trạm biến áp từ 20 đến 40 km, địa hình hiểm trở, quá trình thi công gặp nhiều khó khăn, việc đấu nối, hòa lưới truyền tải điện quốc gia để bán điện cho EVN không thuận lợi. Ðây cũng là nguyên nhân chính làm chậm tiến độ xây dựng công trình. Theo các chủ dự án, chi phí đầu tư đường dây truyền tải đấu nối từ nhà máy đến trạm biến áp của EVN để hòa lưới bán điện rất cao, khoảng từ 1,3 đến 1,8 tỷ đồng một km. Hiện nay, ngoài một số ít dự án gần lưới điện đã có của EVN có thể đấu nối hòa lưới bán điện như Khe Diên, Sông Cùng, Ðại Ðồng... còn lại phần lớn các dự án khác như cụm thủy điện Trà Linh 1, 2, 3, Nước Là, Sông Tranh 1 thuộc các xã của huyện Nam Trà My ở xa lưới điện truyền tải đang gặp khó khăn khi đấu nối bán điện. Một vấn đề đặt ra hiện nay được các chủ dự án hết sức quan tâm là bên bán hay bên mua đầu tư đường dây truyền tải điện. Nếu bên bán tự bỏ vốn đầu tư thì cần có sự bàn bạc thỏa thuận về giá bán điện với EVN sao cho hợp lý tránh gây khó khăn thiệt thòi cho nhà đầu tư. Ðể tháo gỡ khó khăn vướng mắc, trước mắt, tỉnh Quảng Nam đang bàn bạc thống nhất để các chủ dự án ở gần nhau trên cùng địa bàn góp vốn đầu tư đường dây truyền tải bảo đảm thuận tiện, tiết kiệm chi phí đầu tư, giải quyết vướng mắc thúc đẩy quá trình thi công, bảo đảm tiến độ theo kế hoạch.
Phan Lợi và Thanh Lộc