Trong kháng chiến, các cán bộ, đảng viên, chiến sĩ tình nguyện và chuyên gia Việt Nam công tác ở Lào nhận là "xiều". Các "xiều" Việt Nam được các "xiều" Lào che chở, nuôi dưỡng, thương yêu và giúp đỡ hết lòng.
Du kích Chăm-thơ ở Xê Pôn, Xa-văn-na-khệt (đảng viên Ðảng Cộng sản Ðông Dương 1950, năm 1979 được truy tặng danh hiệu Anh hùng), năm 1953, trong trận phối hợp đánh địch với bộ đội tình nguyện Việt Nam ở sông Xê Pôn bị địch bắt. Anh chịu đựng mọi đòn tra tấn đến chết chứ nhất định không chịu dẫn đường cho giặc vào căn cứ, vì ở đó có các "xiều" Việt Nam của anh mà lúc còn sống anh rất thích bài thơ của một người "xiều" Việt Nam tặng anh:
Xê Pôn nước chảy rì rào
Mát trong tình nghĩa Việt-Lào đôi ta
Trường Sơn hai mái một nhà
Ðến đây quê bạn cũng là tôi.
Năm 1964, một đơn vị bộ đội tình nguyện Việt Nam hành quân dài ngày trên vùng rừng rậm Thượng Lào. Ðến vùng núi Phu Then (tỉnh U-đôm-xay), lương thực dự trữ của đơn vị đã cạn. Bộ đội phải ăn củ rừng.
Trên núi Phu Then, có một bản đã kết "xiều" với bộ đội Việt Nam. Bản này chỉ vẻn vẹn bảy nóc nhà, số dân không quá năm chục, lúa rẫy còn non, dân cũng đang đói phải ăn củ "cọi", củ nâu lấy gì tiếp tế cho bộ đội?
Biết các "xiều" Việt Nam đang đói mà phải hành quân xa, dân bản kéo đến thăm đơn vị. Vì tình nghĩa kết "xiều", dân bản bàn riêng với nhau và đã tìm ra cách giúp bộ đội. Già trẻ lớn bé chia nhau đến các rẫy lúa non. Họ tìm những bông lúa có hạt, chọn lấy những hạt chắc nhất và, như chim chích nhặt sâu, họ chọn bứt từng hạt, từng hạt một, từ sáng đến tối người nhanh tay nhanh mắt cũng kiếm được non nửa bơ sữa bò. Về bản họ đem những bơ lúa thu được đến nhà trưởng bản. Gần suốt đêm, họ thay nhau rang và giã thành gạo.
Ðơn vị bộ đội tình nguyện đã nhận được những bơ gạo nặng tình nặng nghĩa đó để nấu cháo cho các chiến sĩ yếu. Ðơn vị đã vượt qua được vùng núi non hiểm trở đến địa điểm tập kết đúng thời gian quy định.
Các bà mẹ Lào, những bà mẹ có nhiều "lục xiều" (con kết nghĩa) Việt Nam như mẹ Doong-cải (Thượng Lào), mẹ Ðừng (Trung Lào), mẹ Ðeng (Hạ Lào)... thường nói giản dị: "Bố mẹ yêu quý Việt Nam, vì Việt Nam là bạn tốt". Ðại tá Trần Công Hàm kể, hồi đơn vị anh chiến đấu ở ngoại ô Viêng Chăn, bị giặc vây, hết cả lương thực, bà con Lào Xủng đã đem cả thóc giống nấu cháo nuôi thương binh. Các mẹ còn ra tìm đưa thương binh vào bản. Họ khóc và bảo thóc giống cũng trút hết cho các con. Dù đồng bào có chết cũng không để thương binh Việt Nam phải đói... Các mẹ đã vắt sữa mình nuôi thương binh.
Các chiến sĩ tình nguyện Việt Nam coi bản mường Lào như đất nước, quê hương mình, sát cánh với các bạn Lào chiến đấu hết sức dũng cảm, không nề gian khổ hy sinh. Vào những năm đầu kháng chiến, một tổ công tác gồm đảng viên và chiến sĩ tình nguyện được giao nhiệm vụ cùng cán bộ chiến sĩ Lào Ít-xa-la xây dựng cơ sở ở vùng dân tộc La Ve (Phu Vông, Ắt-ta-pư).
Ðể dễ dàng gần gũi quần chúng, các đồng chí tự nguyện cởi trần, đóng khố, để tóc dài, đeo vòng tai, phơi nắng nhuộm da theo đúng tập quán địa phương. Anh em còn tập đi chân đất, tập gùi nặng leo núi, giữ đúng mọi sinh hoạt như người La Ve. Sau ba năm ở vùng rừng bám dân, chịu đựng mọi điều gian khổ, tổ công tác đã xây dựng được những cơ sở cách mạng đầu tiên ở vùng trắng. Dân La Ve, nô lệ khổ cực trước đây, nay đã có chính quyền, có đoàn thể, có tổ đoàn kết sản xuất, nhiều người biết chữ, biết dệt vải, bọn Pháp không dám đến lấy thuế, bắt phu. Cán bộ và chiến sĩ trong tổ công tác đều được dân La Ve ở Phu Vông gọi một cách trìu mến là "xiều Việt Nam!" , "ải-noọng Việt Nam!" (người anh em Việt Nam).
Trong công cuộc xây dựng vùng giải phóng trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay, theo yêu cầu xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa của bạn, nhiều cán bộ, chuyên gia Việt Nam, trong đó có anh Hoàng Công Tá, Trần Quang Thuyết, Nguyễn Tiến Nhượng... đã tình nguyện đi sâu vào vùng rừng núi và nông thôn Lào, vừa học tiếng bạn, vừa hướng dẫn cán bộ, nhân dân bạn áp dụng khoa học-kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất. Các anh miệng nói tay làm, đồng cam cộng khổ với nhân dân bạn, coi lợi ích của bạn như chính lợi ích của bản thân mình.
Hiện nay, tại một số nhà máy, trên một số cánh đồng hợp tác, một số công trình xây dựng trên đất nước bạn cũng như các trường đại học, trường kỹ thuật ở Việt Nam, hình ảnh "xiều" Lào, "xiều" Việt bên nhau cùng sản xuất, cùng công tác và học tập là những hình ảnh tiêu biểu cho tình nghĩa kết "xiều" Lào - Việt.
Qua Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác Lào - Việt Nam, tình nghĩa kết "xiều" Lào - Việt trong tình hình mới lại phát triển thêm nhiều hình thức mới: Thủ đô Hà Nội kết "xiều" với thủ đô Viêng Chăn, các tỉnh Việt Nam kết "xiều" với các tỉnh Lào, hai bên giúp đỡ lẫn nhau theo tình nghĩa "một lá me che hai mái đầu...".