Lên rừng nhớ vợ cùng con
Về nhà nhớ củ khoai mon trên rừng
Tôi nhớ ngày xưa mỗi khi mẹ đưa em vào giấc ngủ là lời ru ấy lại ầu ơ theo cánh võng. Trong ắp đầy kỷ niệm, tuổi thơ tôi có hương đồng gió nội, có sáo diều vi vu, có hoa gạo đầu làng cháy suốt tháng Ba. Hương vị quê hương thấm vào da thịt đã theo tôi suốt dặm dài năm tháng. Riêng khoai mon thì chỉ cảm nhận từ lời ru của mẹ. Tai được nghe nhưng mắt chưa được thấy. Tất cả chỉ là câu đò đưa chao liệng.
Khi đang là người lính nơi chiến trường biên giới Tây Nam, tôi đã bắt gặp nhiều loài khoai dọc theo triền những con suối, nhưng khi tìm hiểu đều không phải khoai mon. Thấy vậy, anh Vi Văn Hèm quê mãi vùng cao xứ Lạng nói với tôi:
- Bạn muốn biết khoai mon phải không, quê mình nhiều lắm, khi nào ra bắc về quê mình bạn sẽ được đãi món khoai mon để rồi nhớ mãi.
Rồi một chuyện buồn ập tới khi tôi cùng đồng đội phải vĩnh biệt Hèm trên đường tiến quân giải tỏa con đường huyết mạch trên chiến trường đất bạn vào đầu mùa xuân năm 1979. Bạn xa rồi, chỉ lời hò hẹn vẫn còn lại trên suốt chặng đường hành quân truy kích giặc.
Nhớ ngày đơn vị hành quân ra bắc, tôi được đặt chân đến nhiều nơi suốt dải rừng Ðông Bắc. Một lần trên đỉnh Ðèo Quao giữa núi ngàn trùng điệp. Ðất ải chạy dài mãi phía xa xanh. Tôi nhớ ngày còn ở chiến trường, Hèm kể nhà bạn cách ga Ðộng Gió không xa lắm. Con suối uốn mình ôm lấy bản làng thương nhớ. "Ðúng kia rồi", tôi thốt lên khi trước mắt mình sao giống bức tranh ngày nào Hèm kể tôi nghe.
Tôi cùng một chiến hữu cùng thời xuôi Ðèo Quao về phía ga Ðộng Gió giữa lúc còi tàu báo hiệu vào ga. Từng đoàn người tất bật, người ngược chiều lao nhanh về thành phố, người vội vàng xuôi Phủ Lạng Thương. Chúng tôi băng qua con đường sang bên kia xóm núi. Thật may mắn được làm quen với người em gái nơi quán nước bên đường, chúng tôi hỏi vào nhà một người bạn chiến đấu đã hy sinh khi đang làm nhiệm vụ quốc tế năm 1979. Khi nhắc đến tên bạn Vi Văn Hèm, cô gái nhìn chúng tôi không chớp mắt.
- Thế ra hai anh cùng ở với anh em à. Anh em không về nữa rồi!
Một khoảnh khắc im lặng đượm buồn trên khuôn mặt, cô cùng chúng tôi đi về phía căn nhà núp dưới những tán cây nơi chân núi. Chợt kỷ niệm hiện về trong ký ức khi nhớ một lần đón Tết giữa bìa rừng biên giới Tây Ninh bên dòng sông Vàm Cỏ, Hèm khoe: "Tao có cô em, nếu thằng nào không chê nay mai về tao gả cho". Rồi giọng Hèm như lắng xuống: "Chắc xuân này nó đang cùng bạn bè đi hát hội cũng nên".
À, "em gái tao" của Hèm chính là cô gái đang thoăn thoắt bước chân dẫn bước chúng tôi đi, tấm khăn lam đội đầu đính những chấm sao li ti thật ấn tượng. Gió từ núi thổi về những thửa ruộng bậc thang vừa qua mùa gặt, khiến tà áo chàm cứ phân phất bay bay. Một căn nhà lợp ngói "âm dương" ẩn mình trong xanh lá. Sương khói lam chiều bảng lảng giữa cỏ cây.
- Mế à, nhà mình có khách này - Cô gái cất tiếng gọi.
Từ bếp lửa hồng, bà cụ đưa mắt nhìn chúng tôi. Rồi hai mẹ con nói chuyện gì đó bằng tiếng dân tộc mà chúng tôi không hiểu. Cụ vui vẻ mời chúng tôi vào nhà. Bất chợt nhìn lên bàn thờ,ngoài chân dung những người đã quá cố, còn có hình người bạn chiến đấu Vi Văn Hèm của tôi. Chúng tôi xin phép được thắp nén nhang trước di ảnh người đồng đội. Hèm như đang mỉm cười. Một nỗi cảm thương hòa vào cõi nhớ. Chúng tôi cầu mong hương hồn bạn luôn được thanh thản cõi vĩnh hằng.
Em gái Hèm có tên gọi Lỉm. Cô bùi ngùi im lặng. Lỉm đang tuổi 19, còn một anh trai làm việc ở khu gang thép Thái Nguyên, anh đã có gia đình riêng nên lâu lâu mới về thăm mế. Bố Lỉm cũng đã qua đời khi hay tin Hèm hy sinh một năm sau đó. Ngày được tin anh trai không về nữa, Lỉm khóc thương anh nhiều lắm, rồi nỗi buồn cũng nguôi ngoai. Giờ thì Lỉm luôn gần bên mế để được trông nom săn sóc. Có nhiều trai bản đến tìm hiểu nhưng Lỉm chưa ưng. Cô bảo, phải tìm được người mà mình ưng cái bụng, người ấy phải thương mình, phải đồng ý ở đây cùng mình nuôi mế đến hết đời.
Ông mặt trời đã khuất sau dãy núi. Chúng tôi không ý định ở lại, nhưng từ bếp Lỉm bưng mâm lên mời khách. Người miền núi vốn không màu mè hoa lá nên không ai nỡ chối từ. Ðã lâu lắm rồi tôi lại được ngồi bên mâm cơm trong xóm núi. Một không khí thịnh tình lan tỏa. Mâm cơm chẳng gì khác ngoài món gà xáo gừng và bát rau tập tàng mới hái. Bỗng hương thơm quyến rũ lạ lùng từ nồi canh nghi ngút khói.
- Canh khoai mon đấy - Lỉm nói vậy và đơm khoai ra bát.
Mế cũng vậy, mế gắp mời chúng tôi:
- Lấy ăn đi các con, cơm rau dưa mà. Thằng Hèm không được. Mế coi các con như con trong nhà!
Nhấp chén rượu, ăn miếng khoai mon cùng dài dài câu chuyện, Lỉm bảo khoai này chỉ vùng quê em mới nhiều. Vào mùa giêng hai, khoai được trồng ở sườn đất dốc, không cần chăm bón, cứ mưa là được. Khoai có thể trồng xen với sắn, với ngô mà không ảnh hưởng. Nhưng phải là khoai mầu tím mới đúng là khoai mon. Ðến tháng chín, tháng mười khoai cho thu hoạch, nhà ít vài tạ, nhiều hàng tấn. Nếu không thu hoạch thì mùa sau khoai tiếp tục đâm mầm sống tiếp. Khoai mon dễ chế biến, cọng khoai phơi khô dùng dần, củ khoai đồ xôi hoặc luộc chấm muối vừng đều ngon tuyệt, nhất là món này được ninh với xương lợn càng tuyệt vời hơn. Với người vùng cao, ngày xưa cỗ mà không có món khoai mon nghĩa là không sang. Bây giờ thời buổi đô thị hóa, con người ta muốn quay lại với hương vị tự nhiên của núi rừng, và khoai mon đã được chế biến thành bánh, thành kẹo, thành kem, cũng như nhiều nhà hàng đặc sản không thể thiếu món khoai mon.
Chúng tôi rời bản nhỏ vào cuối chiều, Lỉm hẹn bao giờ có dịp gặp lại để cùng nhau ngược tàu lên Ðồng Ðăng, Kỳ Lừa vui hội.
Trở lại gia đình Lỉm khi những cây mộc miên khẳng khiu bên bờ suối ngày nào giờ đang hé đỏ những bông hoa đón tiết thanh minh. Trong hương vị khoai mon ngào ngạt, tôi một mình đọc mấy câu mà khi vượt đèo mới chợt nghĩ ra:
Canh khoai mon thơm nức lời mời
Em lại hát câu soong hao ngày trước
Ơi câu hát buộc một lời hẹn ước
Ðể bây giờ...
- Ðể bây giờ thì sao - Lỉm chen vào - Ðể bây giờ anh mãi nhớ khoai mon, phải không?
Tôi lúng túng:
- À... à, cũng có thể...
Và tiếng cười hồn nhiên trong trẻo.
Bên bờ suối, hoa tím lay lay.