Về vấn đề phân biệt chủng tộc
Phân biệt chủng tộc là một căn bệnh xã hội thâm căn cố đế ở Mỹ.
Người da đen và các nhóm sắc tộc thiểu số khác sống ở đáy của xã hội Mỹ. Theo số liệu do Cục thống kê Mỹ công bố tháng 8-2007, thu nhập trung bình năm 2006 của các gia đình người da đen là 31.969 USD và của các gia đình gốc Tây Ban Nha là 37.781 USD, lần lượt bằng 61% và 72% thu nhập của các gia đình da trắng không có gốc Tây Ban Nha. Tỷ lệ người da đen và người gốc Tây Ban Nha sống ở mức nghèo và không được bảo hiểm y tế cao hơn nhiều các tỷ lệ này ở nhóm người da trắng không có gốc Tây Ban Nha. Tỷ lệ nghèo năm 2006 ở người da đen là 24,3%, ở người gốc Tây Ban Nha là 20,6%, còn ở người da trắng không có gốc Tây Ban Nha chỉ có 8,2%. Trong năm 2006, tỷ lệ người da đen không được bảo hiểm y tế tăng lên 20,5%, so với 19% năm 2005. Người gốc Tây Ban Nha không được bảo hiểm y tế tăng 34,1% (15,3 triệu người). Tỷ lệ tăng ở người da trắng là 10,8%. Tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS và các bệnh khác ở nhóm người da đen và người gốc Tây Ban Nha cao hơn ở nhóm người da trắng không có gốc Tây Ban Nha.
Theo báo Bưu điện Washington 26-11-2007, 80,7% trong số 3.269 trường hợp nhiễm HIV/AIDS được xác định từ năm 2001 đến 2006 là người da đen. Khả năng bị nhiễm HIV/AIDS ở người da đen cao gấp bảy lần ở người da trắng (mạng của Liên đoàn đô thị toàn quốc www.nul.org).
Theo báo cáo của Trung tâm nghiên cứu hỗn hợp chính trị và kinh tế, một cơ sở nghiên cứu các vấn đề của sắc tộc thiểu số, địa vị xã hội và kinh tế của các gia đình da trắng cao gấp hai lần của các gia đình da đen, còn thu nhập của các gia đình da đen thấp chỉ bằng một nửa của các gia đình da trắng (Người quan sát Washington hằng tuần, 30-11-2006).
Theo Bộ Lao động Mỹ, trong tháng 11-2007, tỷ lệ thất nghiệp của nhóm người Mỹ da đen là 8,4%, gấp đôi của người da trắng không có gốc Tây Ban Nha. Tỷ lệ này ở nhóm người gốc Tây Ban Nha là 5,7%.
Theo kết quả thăm dò năm 2007 của Trung tâm nghiên cứu Pew, 67% số người da đen được hỏi cho rằng họ vẫn bị đối xử phân biệt khi xin việc làm (Mặt trời Baltimore, 3-12-2007).
Theo Ủy ban cơ hội việc làm bình đẳng Mỹ, trong 75.768 đơn kiện gửi đến cơ quan này năm 2006, có 27.328 đơn, liên quan vấn đề phân biệt chủng tộc.
Năm 2007, bốn công nhân da đen đại diện cho 400 công nhân da đen làm việc tại Công ty giày Nike kiện công ty này về tội phân biệt chủng tộc.
Tháng 3-2007, một đơn tố cáo Công ty Walgreen, tập đoàn siêu thị thuốc lớn nhất ở Mỹ, về việc phân biệt đối xử với hàng nghìn công nhân da đen. Bên nguyên kiện công ty này đã quyết định phân công công việc và thăng cấp mang tính phân biệt chủng tộc (tin CBS).
Tình trạng phân biệt chủng tộc nghiêm trọng diễn ra trong lĩnh vực giáo dục ở Mỹ.
Theo báo Diễn đàn Chicago 25-9-2007, các trường công thường có những hình thức kỷ luật nặng hơn đối với học sinh da đen, và tỷ lệ học sinh da đen bị kỷ luật cao hơn nhiều học sinh da trắng. Ở New Jersey, học sinh da đen bị đuổi học vì vi phạm kỷ luật nghiêm trọng nhiều gấp 60 lần số học sinh da trắng bị đuổi. Ở Minnesota, học sinh da đen phải nghỉ học nhiều gấp sáu lần học sinh da trắng. Ở Iowa, học sinh da đen chỉ chiếm 5% tổng số học sinh của các trường công, nhưng chiếm 22% số học sinh bị phạt nghỉ học. Ngày 2-8-2006, một học sinh da đen ở trường trung học Jena ở Louisiana hỏi một giám hiệu nhà trường về việc liệu học sinh da đen có thể ngồi ở chỗ dưới bóng cây, vốn được dành riêng cho học sinh da trắng. Giám hiệu trả lời là được. Nhưng ngay hôm sau, ba học sinh da trắng đã treo những sợi dây thòng lọng - biểu tượng bẩn thỉu của tệ phân biệt chủng tộc ở miền nam - lên những cành cây (AP, 20-9-2007).
Theo Thời báo New York 23-10-2007, hiệu trưởng người da đen của một trường trung học ở Brooklyn nhận được một sợi thòng lọng với một bức thư chứa đựng những lời lẽ phân biệt chủng tộc như "vĩnh viễn quyền lực của người da trắng". Thòng lọng cũng được treo trước cửa văn phòng của một giáo sư da đen ở ÐH Columbia. Các trường Macalester, Trinity và Whitman đều xảy ra các vụ học sinh xuất hiện trong các cuộc hội họp với những trang phục phân biệt chủng tộc. Trong một buổi lễ hội ở trường Macalester, một học sinh đeo một mặt nạ đen với một sợi thòng lọng vòng quanh cổ (AP, 11-2-2007).
Biểu tượng chữ thập ngoặc phát-xít được phát hiện ở khu ký túc của ÐH Columbia năm 2007, rõ ràng nhằm vào người Mỹ gốc Do Thái (tin của nhật báo Thế giới).
Nạn phân biệt chủng tộc trong hệ thống tư pháp Mỹ cũng rất đáng sợ. Theo báo cáo năm 2007 về tình trạng của người Mỹ da đen do Liên đoàn đô thị toàn quốc (NUL) công bố, người Mỹ gốc Phi (đặc biệt là nam giới) thường bị truy tố và kết án với thời hạn thi hành án dài hơn người da trắng. Khả năng người da đen bị tống giam cao gấp 7 lần so với người da trắng. Khả năng người da đen bị tù vì các tội liên quan ma túy cao gấp 10 lần so với người da trắng, mặc dù tỷ lệ cả hai nhóm này sử dụng và bán ma túy là bằng nhau (Bưu điện Washington, 5-12-2007).
Theo Cục thống kê Mỹ, tính đến cuối năm 2006, cứ 100 nghìn người da đen có 815 người ngồi tù. Tỷ lệ này là 283/100 nghìn người ở người gốc Tây Ban Nha và 170/100 nghìn người ở người da trắng.
Theo số liệu Bộ Tư pháp Mỹ công bố tháng 12-2007, tính đến cuối năm 2006 có 560 nghìn người da đen trong các nhà tù cấp bang và liên bang, chiếm 37,5% tổng số tù nhân. Tù nhân gốc Tây Ban Nha và gốc la-tinh có 308 nghìn, chiếm 20,5% tổng số tù nhân. Người da đen có tỷ lệ bị tống giam là 3.042/100 nghìn người, cao gấp 6 lần tỷ lệ này đối với toàn dân số Mỹ (501/100 nghìn người). Tỷ lệ này ở người gốc Tây Ban Nha là 1.261/100 nghìn người. Gần 8% số người da đen tuổi từ 30 đến 34 bị kết án tù giam, so với chỉ 1,2% ở người da trắng cùng nhóm tuổi (Bộ Tư pháp, 5-12-2007). Ở Mỹ, tỷ lệ thanh niên bị tù chung thân rất khác biệt ở các nhóm mầu da. Tỷ lệ tù chung thân không được ân xá trước thời hạn ở thanh niên da đen cao gấp 10 lần ở thanh niên da trắng. Ở California là 20 lần (Thời báo Los Angeles, 19-11-2007).
Hệ thống tư pháp Mỹ áp dụng tiêu chuẩn kép đối với người da đen và người da trắng. Theo AP 20-9-2007, trong vụ "Jena 6", sáu thanh niên da đen bị bắt vì đánh một bạn da trắng cùng lớp và năm người trong số họ bị truy tố với các tội cố sát. Sự kiện này đã châm ngòi cuộc biểu tình của 2.000 sinh viên ở thị trấn chỉ có 3.000 cư dân. Trong khi đó, hai nữ giáo viên bị cáo buộc đã quan hệ tình dục với sáu nam học sinh da đen được thả sau khi đóng tiền bảo lãnh (AP, 28-3-2007).
Ở Mỹ, các nhóm sắc tộc thiểu số là nạn nhân chính của các vụ phạm tội bạo lực và giết người do thù hằn. Theo báo cáo của FBI công bố tháng 11-2007, có 7.722 vụ phạm tội do thù hằn ở Mỹ trong năm 2006, tăng 8%. Trong số đó, 51,8% là do phân biệt chủng tộc. Các vụ phạm tội do thù hằn nhằm vào người Hồi giáo tăng 22%, với người gốc Tây Ban Nha tăng 10% (Nước Mỹ ngày nay, 20-11-2007).
Ở TP New York, số vụ phạm tội do thù hằn tăng 20,9% trong năm 2007. Trong số 512 vụ xảy ra ở hạt Los Angeles trong năm 2006, 68% là do các vấn đề sắc tộc (Thông tấn Trung Hoa, 8-6-2007).
Theo báo cáo của Bộ Tư pháp Mỹ công bố tháng 8-2007, người da đen chiếm 13% số dân Mỹ, nhưng là nạn nhân trong 15% tổng số vụ phạm tội bạo lực không tới mức chết người và 49% tổng số vụ giết người trong năm 2005.
Về các quyền của phụ nữ và trẻ em
Phụ nữ chiếm 51% số dân Mỹ, nhưng chỉ có 86 phụ nữ làm nghị sĩ tại QH nhiệm kỳ 110 của Mỹ. Phụ nữ giữ 16 ghế, chiếm 16% trong số 100 ghế Thượng viện, và 70 ghế, chiếm 16,1% trong 435 ghế ở Hạ viện. Trong tháng 12-2007, tỷ lệ phụ nữ làm việc trong các cơ quan hành pháp cấp bang có là 24,1% và trong các cơ quan lập pháp cấp bang là 23,5%. Tính đến tháng 9-2007, trong số 1.145 thị trưởng của các thành phố Mỹ có số dân hơn 30 nghìn người, chỉ có 185 phụ nữ, chiếm 16,2% (theo nguồn của Trung tâm về phụ nữ và chính trị Mỹ, www.cawp.rutgers.edu).
Tình trạng phân biệt đối xử với phụ nữ diễn ra phổ biến trên thị trường lao động và việc làm Mỹ. Ủy ban cơ hội việc làm bình đẳng Mỹ cho biết, đã nhận được 23.247 đơn kiện về vấn đề phân biệt đối xử nam nữ trong năm 2006, chiếm 30,7% tổng số các đơn kiện về tình trạng phân biệt đối xử.
Theo tin các báo, khoảng 1,6 triệu phụ nữ đã tham gia vụ kiện phân biệt đối xử giới lớn nhất trong lịch sử Mỹ. Họ kiện tập đoàn bán lẻ khổng lồ Wal - Mart phân biệt đối xử với phụ nữ trong trả lương và thăng tiến (Reuters, 6-2-2007).
Thu nhập trung bình của phụ nữ thấp hơn của nam giới ở Mỹ. Theo số liệu Cục thống kê Mỹ công bố tháng 8-2007, thu nhập trung bình của phụ nữ tuổi từ 15 trở lên là 32.515 USD trong năm 2006, bằng 77% của nam giới (42.261 USD). Tỷ lệ nghèo ở phụ nữ cũng cao hơn. Tính đến cuối năm 2006, hơn 5,58 triệu phụ nữ độc thân từ 18 tuổi trở lên sống ở mức nghèo, chiếm 22,2% số phụ nữ ở nhóm tuổi này. Khoảng 4,1 triệu phụ nữ nuôi con một mình, sống ở mức nghèo trong năm 2006, cao hơn nhiều tỷ lệ gia đình nghèo toàn quốc là 9,8%. Phụ nữ da mầu dễ rơi vào cảnh bần hàn hơn.
Một báo cáo của Trung tâm về các quyền sinh sản Mỹ cho biết, tỷ lệ chết khi sinh nở của các bà mẹ ở Mỹ cao thứ 30 trên thế giới. Tỷ lệ chết khi sinh nở ở phụ nữ da đen cao gấp 4 lần so với phụ nữ da trắng. Tỷ lệ phụ nữ da đen nhiễm AIDS và các bệnh hoa liễu cao gấp 23 lần và 18 lần so với phụ nữ da trắng. Trong số phụ nữ nghèo ở Mỹ, phụ nữ gốc Phi, Tây Ban Nha, Ấn Ðộ và châu Á chiếm lần lượt là 27%, 26%, 21% và 13%, so với 9% ở phụ nữ da trắng.
Phụ nữ Mỹ là nạn nhân của nạn bạo lực trong gia đình. Theo thông tin của Tổ chức phụ nữ toàn quốc, ước tính có từ hai đến bốn triệu phụ nữ bị đánh đập mỗi năm ở Mỹ, trong đó khoảng 1.400 phụ nữ bị chồng hoặc bạn trai đánh gây tử vong. Khả năng phụ nữ bị người thân hành hạ cao gấp 10 lần so với nam giới. Phụ nữ sống ly thân, ly dị hoặc độc thân, thu nhập thấp và phụ nữ gốc Phi là những nạn nhân của các vụ bạo lực và hãm hiếp.
Tỷ lệ bạo hành trong gia đình ở các gia đình sống dưới mức nghèo cao gấp 5 lần so với gia đình bình thường. 37% số phụ nữ Mỹ từng được cấp cứu ít nhất một lần vì bạo hành trong gia đình; 30% số phụ nữ mang thai bị chồng hoặc bạn trai đánh; 50% số đàn ông Mỹ thường xuyên đánh vợ và con họ; 74% số phụ nữ có việc làm bị các đồng nghiệp đánh.
Theo AP 18-4-2007, nạn bạo hành trong gia đình ở Mỹ lan cả tới nơi làm việc. Y-vét Kết bị bỏng độ 3 trên 60% thân thể do chồng của cô gây ra tại nơi làm việc. Phụ nữ thường bị quấy rối tình dục ở nơi làm việc và trong doanh trại quân đội.
Ủy ban cơ hội làm việc bình đẳng cho biết, đã nhận 12.025 đơn kiện về quấy rối tình dục trong năm 2006, trong đó 84,6% do phụ nữ kiện.
Tổ chức phụ nữ toàn quốc cho biết, mỗi năm gần 132 nghìn phụ nữ là nạn nhân của các vụ hãm hiếp, và nhiều phụ nữ bị hiếp từ hai đến sáu lần, nhưng đã không báo cảnh sát.
Ủy ban điều tra các vụ phạm tội trong quân đội nhận được 1.700 đơn kiện quấy rối tình dục năm 2004, trong đó có 1.305 đơn kiện hiếp dâm.
Theo điều tra của ÐH California, trong số 3.000 binh sĩ nữ đã về hưu có 25 người đã chịu di chứng của quấy rối tình dục trong các doanh trại (Thông tấn xã Mỹ la-tinh, 10-2-2007).
Thời báo New York cho biết, nhiều nữ binh sĩ Mỹ đóng ở Iraq bị chấn thương vì bị đồng đội lạm dụng tình dục hoặc bị trúng đạn của đối phương trên chiến trường. Xu-dan Xuýp bị các chỉ huy liên tục quấy rối tình dục. Khi cô định tố cáo họ, cô liền bị điều động trở lại cùng đơn vị với các thủ phạm (Thông tấn xã Mỹ la-tinh 10-2-2007).
Ma-ri-xe-la Gút-man bị đánh và hãm hiếp trong ca trực đêm khi cô ở trại huấn luyện của hải quân. Ðã bốn lần cô tìm cách báo cáo vụ việc, nhưng không được ai chú ý và chỉ huy thậm chí còn ra lệnh cho cô phải chịu phạt hít đất vì đã có hành vi đối xử không đúng với chỉ huy (Thông tấn xã Mỹ la-tinh 10-2-2007).
Áp-bi Píc-kít bị hãm hiếp trong đội binh sĩ nhân đạo triển khai ở Nicaragua khi mới 19 tuổi. Cô nói cô rất ngại thông báo vụ việc vì thủ phạm là một sĩ quan cấp cao hơn cô (Thời báo New York, 18-3-2007).
Số phụ nữ ngồi tù ở Mỹ ngày càng nhiều và họ thường chịu các điều kiện tồi tệ. Số liệu do Bộ Tư pháp Mỹ công bố tháng 12-2007 cho thấy số phụ nữ ngồi tù trong các nhà tù cấp bang và liên bang tăng 4,5% (thêm 4.872 người) trong năm 2006, đưa số tù nhân nữ lên tới 112.498 người. Tỷ lệ này cao hơn tỷ lệ tăng trung bình 2,9% của giai đoạn 2000 - 2005.
Tổ chức Ân xá quốc tế trong báo cáo năm 2007 cho biết, trong các nhà tù ở Mỹ, các giám thị nam có thể khám xét toàn thân tù nhân nữ và theo dõi họ giặt và thay quần áo. Ở hầu hết các bang, các giám thị nam được phép vào phòng giam tù nhân nữ mà không có người giám sát.
Ðiều kiện sống của trẻ em Mỹ rất đáng lo ngại. Báo Tin hằng ngày Houston dẫn kết quả điều tra của LHQ ở 21 nước giàu cho thấy mặc dù Mỹ nằm trong số những nước giàu nhất thế giới nhưng chỉ đứng thứ 20 về điều kiện sống tốt cho trẻ em.
Từ góc độ sức khỏe và an ninh cho trẻ em, Mỹ đứng ở đáy bảng xếp hạng. Tính đến cuối năm 2006, có 12,8 triệu trẻ em Mỹ dưới 18 tuổi sống ở mức nghèo, chiếm 17,4% tổng số trẻ em của nước này. Trẻ em chiếm 35,2% số dân nghèo ở Mỹ. Tỷ lệ trẻ em nghèo trong các gia đình phụ nữ không chồng hiện tại là 42,1% (số liệu của Cục thống kê Mỹ công bố 8-2007).
Ngày càng nhiều trẻ em không được bảo hiểm y tế. Tính đến cuối năm 2006, khoảng 8,7 triệu trẻ em dưới 18 tuổi không được bảo hiểm y tế ở Mỹ, tăng 11,7% so với năm 2005, chiếm 19,3% tổng số trẻ em. Ngày càng nhiều trẻ em vô gia cư.
Theo kết quả điều tra của Hội nghị các thị trưởng Mỹ về tình trạng người đói và vô gia cư ở 23 thành phố của Mỹ công bố tháng 12-2007, số thành viên của các gia đình có trẻ em chiếm 23% tổng số người sống trong những nơi trú ngụ khẩn cấp năm 2007. Số đơn của các gia đình có trẻ em kêu cầu nơi trú ngụ khẩn cấp tăng ở 10 thành phố. Tỷ lệ trẻ sơ sinh sống sót của Mỹ thua xa các nước phát triển khác. Năm 2007, một dự luật mở rộng diện bảo hiểm y tế của chính phủ cho trẻ em bị Tổng thống G.W.Bush phủ quyết mặc dù dự luật này được 72% số công chúng ủng hộ (Bưu điện Washington, 13-12-2007).
Thanh thiếu niên Mỹ thường là nạn nhân của các hành vi lạm dụng và tội phạm. Theo một báo cáo về tình trạng phạm tội trong trường học do Bộ Tư pháp Mỹ công bố tháng 12-2007, cứ 1.000 học sinh Mỹ tuổi từ 12 trở lên có 57 em là nạn nhân của bạo lực và tội phạm trong năm 2005. Từ 1-7-2005 đến 30-6-2006, có 14 vụ giết người trong trường học liên quan trẻ em ở tuổi đi học; 25% tổng số học sinh đã mua ma túy trong trường học; 24% tổng số học sinh nói họ tham gia các băng đảng ở trường học.
Tại một số trường trung học ở Baltimore nhiều học sinh mang vũ khí đến trường. Từ ngày khai giảng năm học mới đến cuối tháng 10-2007, xảy ra 216 vụ việc ở các trường trong thành phố mà cảnh sát phải bắt giữ người (Mặt trời Baltimore, 11-12-2007).
Bạo lực tình dục lan tràn trong các trường học Mỹ. Theo điều tra toàn quốc của AP trong năm 2007, 2.570 giáo viên bị phạt vì có hành vi xấu về tình dục, từ năm 2001 đến 2005. 80% số nạn nhân là học sinh. Kết quả điều tra của QH Mỹ cho thấy có 4,5 triệu trong tổng số gần 50 triệu học sinh trong các trường học Mỹ là nạn nhân của các hành vi xấu về tình dục của nhân viên nhà trường (từ nhà trẻ đến lớp 12). Trung bình mỗi ngày ở các trường học của Mỹ xảy ra ba vụ lạm dụng tình dục (AP, 21-10-2007).
Thanh thiếu niên bị đối xử tồi tệ tại các trại huấn luyện quân sự. Theo báo cáo của QH Mỹ, hàng nghìn thanh thiếu niên đã bị lạm dụng tại các trại huấn luyện, một số bị chết. Nhân viên điều tra chính phủ nói các vụ lạm dụng ở các trại huấn luyện diễn ra dưới nhiều hình thức, như nạn nhân bị buộc phải nuốt lại đồ ăn họ đã nôn ra, khẩu phần ăn không đủ, bị buộc nằm trên bãi nước tiểu hoặc phân, bị đá hoặc đánh.
Một cậu bé bị buộc phải cọ toa lét bằng bàn chải đánh răng và sau đó dùng chính bàn chải đó cọ răng. Nhật ký để lại của cậu bé 16 tuổi Aaron Bacon, bị chết vì loét vết thương không được điều trị, trong đó ghi lại cậu đã phải hành quân 20 ngày trong đó 14 ngày không được ăn chút gì và bị buộc phải đi bộ từ 13 đến 16 km mỗi ngày. Khi cậu được cấp khẩu phần ăn, đồ ăn gồm đậu lăng chưa được nấu chín, thằn lằn và bọ cạp. Bố cậu cho biết, cậu đã bị đánh từ đầu tới chân trong thời gian ở trại. Martin Lee Anderson, 14 tuổi, chết trong một trại huấn luyện sau khi bị lính gác bóp cổ và buộc em phải hít khí a-mô-ni gây ngạt (Tạp chí Thời đại, 12-10-2007).
Hàng triệu bé gái trở thành nô lệ tình dục ở Mỹ. Bộ Tư pháp Mỹ cho biết, có khoảng 100 nghìn đến ba triệu trẻ em Mỹ tuổi dưới 18 làm điếm. Một báo cáo của FBI nói có tới 40% số người bị buộc làm điếm là trẻ vị thành niên.
Trẻ em Mỹ không được hệ thống tư pháp bảo vệ thỏa đáng. Mỹ là một trong số ít nước trên thế giới kết án tử hình trẻ em, thậm chí ở một số bang còn không có giới hạn tuổi cho án tử hình. Không nước nào khác kết án tù chung thân trẻ em nhiều như Mỹ.
Một nghiên cứu chung của Tổ chức giám sát nhân quyền và Tổ chức ân xá quốc tế cho thấy khoảng 9.400 trẻ vị thành niên bị tù ở Mỹ trong năm 2005, trong đó có 2.225 em bị kết án tù chung thân. 16% số em này ở độ tuổi từ 13 đến 15 (báo Phản kháng, Tây Ban Nha, 27-4-2007).
Hiện tại có 2.387 thiếu niên bị kết án tù chung thân không được giảm án (Thời báo Los Angeles, 19-11-2007).
Ở California có 227 thiếu niên đang chịu án tù chung thân không được giảm án. Con số này ở Pennsylvania là 433. Các tội phạm thiếu niên thường nhận cùng mức hình phạt như người lớn.
Theo báo Bưu điện Washington ngày 2-12-2007, ước tính có khoảng 200 nghìn bị cáo thiếu niên bị chuyển thẳng tới hệ thống xét xử người lớn là tòa hình sự. Khoảng 7.500 thanh thiếu niên bị giam trong các nhà tù của người lớn mỗi ngày.
Trẻ em da mầu và trẻ là con các gia đình nghèo dễ bị đi tù hơn. Trung tâm tư pháp thanh thiếu niên của ÐH Suffolk năm 2000 cho biết, trẻ em Mỹ gốc Phi, mặc dù chỉ chiếm 15% tổng số trẻ em ở Mỹ, nhưng chiếm tới 46% số tù nhân trong các nhà tù Mỹ, và 52% số trẻ em này bị kết án tại tòa hình sự. Số trẻ da đen bị tù nhiều gấp 5 lần số trẻ da trắng. Số thiếu niên gốc la-tinh và thổ dân bị tù nhiều gấp 2,5 lần số trẻ da trắng (Phản kháng, 27-4-2007).
Nhiều trẻ em 6, 7 tuổi bị đối xử như tội phạm hình sự vì các lỗi bình thường. Cậu bé Gerard Mungo, 7 tuổi, bị bắt vì ngồi mô-tô trước nhà mình. Lý do bắt giữ là loại mô-tô đó bị cấm ở thành phố này. Cậu bị còng tay vào ghế trong 2 giờ (Phản kháng, 27-4-2007).
Ở Florida, hơn 4.500 trẻ em dưới 11 tuổi bị cáo buộc phạm tội. Cô bé Ðê-xrê Oát-xơn 6 tuổi bị bắt và bị cáo buộc tiến công một giáo viên, làm đảo lộn hoạt động nhà trường và chống lại các nhân viên bảo vệ của trường (Phản kháng, 27-4-2007).
Về sự vi phạm nhân quyền của Mỹ ở các nước khác Mỹ có một kỷ lục số vụ tai tiếng về việc chà đạp chủ quyền và vi phạm nhân quyền ở các nước khác.
Hành động xâm lược Iraq của quân đội Mỹ đã gây nên bi kịch nhân quyền và thảm họa nhân đạo lớn nhất trong thế giới hiện đại. Từ khi cuộc xâm lược bắt đầu năm 2003, có 660.000 người Iraq thiệt mạng, trong đó 99% là dân thường, nghĩa là mỗi ngày có 450 người chết.
Theo Thời báo Los Angeles, số dân thường chết ở Iraq là hơn một triệu người. Báo cáo của Quỹ nhi đồng LHQ (UNICEF) cho biết, khoảng một triệu người Iraq không có nhà cửa trong đó một nửa là trẻ em. Có 75.000 trẻ em đang sinh sống trong các trại tị nạn hoặc những nơi trú ẩn tạm thời.Khoảng 760.000 học sinh không thể đến trường.
Theo các phương tiện thông tin đại chúng, những vệ sĩ của Blackwater, một tổ chức dịch vụ an ninh thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ, đã bắn chết 17 người Iraq một cách vô cớ vào ngày 16-9-2007 và được Bộ Ngoại giao Mỹ miễn truy tố. (Thông tấn Trung Hoa, 31-10-2007).
Các cuộc điều tra của Chính phủ Iraq cho biết, trước đó, các vệ sĩ của Blackwater đã giết 21 người Iraq và làm 27 người khác bị thương.Cuộc điều tra của Bộ Ngoại giao Mỹ cho thấy Blackwater đã dính líu vào 56 vụ bắn súng ở Iraq trong năm 2007.
Theo một báo cáo của QH Mỹ, Blackwater đã dính líu gần 200 vụ đấu súng ở Iraq từ năm 2005 và 85% trong số vụ này là bắn vu vơ.
Hãng AP cho biết, ngày 23-10-2007, một vụ nổ súng nhằm vào một nhóm người bị nghi đang cài bom ở ven đường, gần TP Samara ở phía bắc Baghdad, làm ít nhất 11 người thiệt mạng, trong đó có 6 dân thường Iraq. Trong khi đó cảnh sát địa phương và những người chứng kiến cho biết, số dân thường thiệt mạng trong vụ này là 14 (AP, Baghdad, 23-10-2007).
Các tướng lĩnh chỉ huy của Tiểu đoàn thứ nhất của Trung đoàn bộ binh 501 đã lập chương trình "nhử mồi" nhằm tiêu diệt được nhiều hơn quân nổi dậy bằng cách bỏ rơi vũ khí để "nhử mồi", nếu có ai đó nhặt súng, các tay súng bắn tỉa sẵn sàng nhả đạn. Nhiều người dân Iraq đã thiệt mạng vì cái bẫy này (Thời báo Los Angeles, 5-10-2007; Bưu điện Washington, 24-9-2007).
Quân đội Mỹ đã giết nhiều dân thường vô tội trong cuộc chiến chống khủng bố ở Afghanistan. Theo báo Bưu điện Washington, 3-5-2007, có 51 dân thường bị quân đội Mỹ giết trong vòng một tuần.
Báo cáo của một nhóm nhân quyền Afghanistan cho biết, đơn vị lính thủy đánh bộ Mỹ đã bắn bừa bãi vào những người đi bộ, trong xe ô-tô, xe buýt và taxi trên đường ở tỉnh Nangarhar ngày 4-3-2007, làm 12 dân thường thiệt mạng, trong đó có một trẻ em và ba người già (Thời báo New York, 15-4-2007).
Nước Mỹ có nhiều nhà tù bí mật trên khắp thế giới, nơi những tù nhân bị đối xử một cách vô nhân đạo. "Nhà tù bí mật" và "những tù nhân bị tra tấn" trở thành đồng nghĩa với nước Mỹ.
Tháng 5-2007, báo cáo viên đặc biệt của LHQ về bảo vệ nhân quyền cho biết, Mỹ đã bắt giữ 700 người ở Afghanistan và 18.000 người ở Iraq vì liên quan cuộc chiến chống khủng bố. Báo cáo viên đặc biệt này bày tỏ sự quan tâm của ông về những điều kiện của những người bị bắt giữ ở Vịnh Guantanamo và các cơ sở giam giữ bí mật khác; về việc thiếu bảo vệ về pháp lý và xét xử công bằng đối với những người bị tình nghi khủng bố. Ông cũng bày tỏ sự bất bình về việc Chính phủ Mỹ từ chối cho phép ông đến thăm Vịnh Guantanamo và những nơi giam giữ bí mật khác, (www.unog.ch 29-5-2007).
Ngoài Vịnh Guantanamo, nơi tù nhân phải chịu những cuộc tra tấn khủng khiếp, Mỹ còn quản lý những cơ sở bí mật ở Jordan và Ethiopia, nơi những người bị giam giữ bị đối xử một cách dã man.
Theo tờ Bưu điện Washington, 1-12-2007, Cục tình báo Trung ương Mỹ (CIA) đã quản lý một nhà tù bí mật ở ngoại ô Thủ đô Amman của Jordan từ năm 2000, nơi nhiều người không phải là công dân Jordan bị nghi là khủng bố đã bị bắt giam và tra hỏi bằng cực hình (Bưu điện Washington, 1-12-2007).
Theo các phương tiện thông tin đại chúng, CIA giam giữ hàng trăm người bị nghi thuộc mạng lưới Al Qaeda tại một nơi bí mật ở Ethiopia. Những người bị bắt giam từ 19 nước có cả trẻ em mới 7 tháng tuổi. Họ bị trục xuất một cách bất hợp pháp sang Ethiopia, nơi họ bị giam giữ trong những điều kiện khủng khiếp tại các nhà tù chật chội với hàng chục người trong một phòng giam khoảng 10 m2. Tại đây thiếu ăn nhưng đầy những lời lăng mạ và các vụ tra tấn (Tin điện hằng ngày, 5-4-2007; AP, Nairobi, 5-4-2007).
Theo Thời báo Washington, 14-12-2007, CIA thường tra tấn những người tình nghi khủng bố bị bắt giữ bằng cách dìm trong nước và hành hình giả (Thời báo Washington, 14-12-2007).
Theo tờ Thời báo New York, 7-12-2007, năm 2005 CIA đã hủy ít nhất hai băng video ghi tư liệu cuộc thẩm vấn hai mật vụ Al Qaeda năm 2002 trong nhà tù của CIA (Thời báo New York, 7-12-2007).
CIA đã hủy những bằng chứng về chương trình bắt giữ bí mật của cơ quan này. Những tù nhân nữ thường bị làm nhục ở Iraq. Nhiều thông tin cho biết, nhiều người trong số tù nhân nữ này trở thành nạn nhân của cảnh sát Iraq và lực lượng chiếm đóng. Người Iraq cho rằng, chưa bao giờ có quá nhiều vụ hiếp dâm và những hành động tàn ác đối với phụ nữ trong bất cứ cuộc chiến tranh nào kể từ thời Trung cổ như được chứng kiến trong cuộc chiến tranh Iraq (Phản kháng, 5-5-2007).
Mỹ vẫn áp đặt "tiêu chuẩn kép" về vấn đề nhân quyền, Mỹ thường gây sức ép đối với các nước khác để mời báo cáo viên đặc biệt của LHQ đến kiểm tra và báo cáo tình trạng nhân quyền của những nước này nhưng chưa bao giờ Mỹ tự làm như vậy đối với mình. Mỹ đòi hỏi các nước khác tuân thủ các chuẩn mực của LHQ, theo đó cho phép báo cáo viên đặc biệt tới thăm bất cứ nơi nào và nói chuyện với bất cứ ai mà không được can thiệp hoặc theo dõi, nhưng chính Mỹ lại bác bỏ những chuẩn mực đó và đã từ chối đề nghị của nhiều báo cáo viên đặc biệt về việc cùng tới thăm căn cứ quân sự của Mỹ ở Vịnh Guantanamo.
Mỹ từ chối công nhận quyền phát triển là một phần của nhân quyền. Mặc dù Mỹ đã ký Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1977, Mỹ vẫn chưa thông qua công ước này. Mỹ khẳng định rằng nước này thấy rõ tầm quan trọng đối với việc bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ em, nhưng sau 27 năm ký Công ước về loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối với phụ nữ, Mỹ vẫn chưa thông qua công ước này. Mỹ là một trong 7 thành viên LHQ không thông qua công ước nói trên.
Sau 12 năm ký Công ước về quyền của trẻ em, Mỹ vẫn chưa thông qua công ước này, mặc dù 193 nước đã thông qua. Từ tháng 3-2007, Công ước về quyền của những người tàn tật được đưa ra để ký và nhiều nước chấp nhận công ước này với thái độ tích cực. Ðến cuối tháng 12-2007, 118 nước đã ký công ước và bảy nước đã thông qua, nhưng Mỹ vẫn chưa ký và cũng chưa thông qua công ước này.
Tôn trọng và bảo vệ nhân quyền là một mục tiêu quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội con người và là một biểu hiện quan trọng của nền văn minh hiện đại. Nó cũng là mục tiêu chung của loài người ở tất cả các nước, các chủng tộc và là một vấn đề then chốt của xu thế tiến bộ trong thời đại chúng ta. Tất cả các nước có nghĩa vụ nỗ lực thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền ở lãnh thổ của mình, và đẩy mạnh sự hợp tác quốc tế phù hợp chuẩn mực của các mối quan hệ quốc tế. Không một nước nào trên thế giới có thể tự xem mình là hiện thân của nhân quyền và sử dụng nhân quyền như là một công cụ để can thiệp công việc của các nước khác và gây sức ép đối với các nước khác để thực hiện những lợi ích chiến lược riêng.
Mỹ công bố báo cáo về tình hình nhân quyền của các nước hết năm này đến năm khác. Trong khi ngạo mạn chỉ trích về nhân quyền của các nước khác, Mỹ đã cố tình phớt lờ những vấn đề nhân quyền nghiêm trọng ở chính nước mình.
Hành động này không chỉ mâu thuẫn với những chuẩn mực của các mối quan hệ quốc tế đã được chấp nhận một cách rộng rãi mà còn phơi bày "tiêu chuẩn kép" và đạo đức giả hoàn toàn của Mỹ về vấn đề nhân quyền và đã không tránh khỏi hủy hoại hình ảnh của Mỹ trên trường quốc tế.
Chính phủ Mỹ nên giải quyết các vấn đề nhân quyền của chính mình và từ bỏ việc áp đặt "tiêu chuẩn kép" về vấn đề nhân quyền.