Nỗ lực của các địa phương trong vùng đã góp phần hiện thực hóa mục tiêu về bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế tuần hoàn và sử dụng hiệu quả tài nguyên được xác định tại Quyết định số 612/QĐ-TTg ngày 4/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ về điều chỉnh Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Hà Nội là địa phương đi đầu chuyển đổi xử lý rác thải từ chôn lấp truyền thống sang xử lý thân thiện môi trường. Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, mỗi ngày thành phố phát sinh khoảng 8.400 tấn chất thải rắn sinh hoạt. Đến nay, khoảng 7.250 tấn/ngày đã được xử lý bằng công nghệ đốt phát điện tại các nhà máy ở Xuân Sơn và Nam Sơn, song vẫn còn hơn 1.000 tấn/ngày phải chôn lấp.
Thành phố đặt mục tiêu đến hết năm 2027 đốt phát điện 100% rác thải sinh hoạt, chấm dứt chôn lấp trực tiếp. Thành phố cũng đang mở rộng nhà máy để xử lý cả lượng rác đã chôn lấp. Dự án mở rộng Nhà máy điện rác Sóc Sơn có công suất xử lý 1.600 tấn rác đã chôn lấp/ngày, công suất phát điện khoảng 45 MW.
Là địa phương có tốc độ đô thị hóa cao, tỉnh Bắc Ninh có lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh khoảng 2.060 tấn/ngày. Tỷ lệ thu gom, xử lý đạt khoảng 95,8%. Tỉnh đã hình thành hệ thống nhà máy xử lý chất thải rắn công nghệ cao phát điện và đang triển khai thêm các dự án quy mô lớn.
Theo kế hoạch giai đoạn 2025-2027, Bắc Ninh tổ chức phân vùng để đưa rác về các cơ sở phù hợp như: Nhà máy xử lý chất thải rắn công nghệ cao phát năng lượng tại phường Song Liễu, công suất 350 tấn/ngày; Nhà máy xử lý chất thải rắn tập trung phát điện tại xã Trung Kênh, công suất 300 tấn/ngày; Nhà máy xử lý chất thải rắn công nghệ cao phát năng lượng tại xã Phù Lãng, công suất 500 tấn/ngày.
Cùng với các cơ sở đang vận hành, Bắc Ninh đang thúc đẩy hai dự án nhà máy đốt rác phát điện mới tại phường Đa Mai, công suất 750 tấn/ngày và xã Hiệp Hòa, công suất khoảng 500-650 tấn/ngày.
Cùng với các địa phương trong vùng, tỉnh Hưng Yên đã khởi công một loạt dự án phát điện từ rác thải thân thiện với môi trường và đáp ứng một phần nhu cầu điện năng cho phát triển. Nhà máy điện rác Phù Cừ với tổng vốn đầu tư 4.000 tỷ đồng, công suất xử lý 1.600 tấn rác/ngày, đêm, phát điện 40MW vừa được khởi công trong quý II/2026.
Hiện địa phương chủ yếu đốt kết hợp chôn lấp một phần rác thải sinh hoạt; tuy nhiên, năng lực xử lý rác còn hạn chế dẫn đến tồn đọng rác thải tại một số khu vực. Theo thống kê, mỗi ngày tỉnh phát sinh khoảng 2.000 tấn rác thải sinh hoạt, trong khi năng lực xử lý hiện mới đạt khoảng 30%. Bên cạnh đó, các cơ sở sản xuất, kinh doanh cũng phát sinh khoảng 1.000 tấn rác thải/ngày.
Theo đồng chí Nguyễn Lê Huy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên, việc đầu tư xây dựng nhà máy xử lý chất thải phát điện bằng công nghệ hiện đại sẽ góp phần giải quyết vấn đề rác thải, giảm áp lực cho các bãi chôn lấp truyền thống. Dự kiến, nhà máy sẽ hoàn thành và đi vào vận hành trong quý II/2027.
Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Hồng đề ra mục tiêu đến năm 2030 tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn đạt 95%; tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt nông thôn đạt 90%; tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt đô thị được xử lý bằng công nghệ chôn lấp trực tiếp trên tổng lượng chất thải được thu gom nhỏ hơn 10%.
Để đạt mục tiêu nói trên, theo ông Trần Việt Anh, Chủ tịch Hiệp hội Tái chế chất thải Việt Nam (VWRA), các địa phương cần có giải pháp mang tính nền tảng: tổ chức phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn theo hướng đồng bộ, trước hết tại các đô thị lớn, khu dân cư tập trung, sau đó mở rộng ra khu vực nông thôn; đẩy mạnh đầu tư các nhà máy xử lý rác bằng công nghệ hiện đại, nhất là đốt rác phát điện, trong đó ưu tiên các dự án đốt rác thu hồi năng lượng, tái chế và thu hồi tài nguyên; lựa chọn công nghệ phù hợp thành phần, độ ẩm và khối lượng rác thực tế của từng địa phương.
Bên cạnh đó, các địa phương cần tạo cơ chế đủ hấp dẫn để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực xử lý rác, mở rộng hình thức đầu tư, xã hội hóa đầu tư, tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia từ thu gom, vận chuyển đến xử lý và tái chế.
Các địa phương trong vùng cần xây dựng cơ sở dữ liệu chung về khối lượng rác phát sinh, năng lực thu gom, vận chuyển, công suất xử lý, tỷ lệ tái chế và lượng rác chôn lấp, từ đó dự báo nhu cầu xử lý trong dài hạn, tránh tình trạng địa phương thừa hoặc thiếu công suất.
Cơ chế liên kết giữa các địa phương cần được thiết lập để điều phối rác về những nhà máy xử lý tập trung có công suất và công nghệ phù hợp.