Hàng dệt may Việt Nam - Hoa Kỳ hậu WTO

Hàng dệt may Việt Nam - Hoa Kỳ hậu WTO

Kể từ ngày 11-1-2007, Việt Nam sẽ được xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ không hạn chế, chế độ hạn ngạch dệt may được bãi bỏ hoàn toàn.

Bên cạnh những cơ hội, ngành dệt may Việt Nam sẽ gặp phải một số khó khăn và thách thức. Để cung cấp những thông tin “nóng” cho DN cả nước về việc gia hạn Hiệp định Dệt may Việt Nam - Hoa Kỳ và cơ chế giám sát hàng dệt may năm 2007, Thứ trưởng Thương mại Lê Danh Vĩnh đã có cuộc trao đổi chung quanh vấn đề trên.

Hỏi: Xin thứ trưởng cho biết tác động của việc Việt Nam trở thành thành viên của WTO, việc Quốc hội Hoa Kỳ thông qua PNTR và việc gia hạn Hiệp định dệt may Việt Nam - Hoa Kỳ đến ngày 12-1-2007 đối với việc xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang Hoa Kỳ?

Thứ trưởng Lê Danh Vĩnh: Theo các cam kết trong hai bức thư của Bộ trưởng Thương mại Hoa Kỳ - DOC và Trưởng đại diện thương mại Hoa Kỳ - USTR gửi hai Thượng nghị sĩ Dole và Graham, Hoa Kỳ sẽ áp dụng cơ chế giám sát để có thể áp dụng các biện pháp chống phá giá đặc biệt đối với hàng dệt may Việt Nam nhưng chưa từng được áp dụng đối với bất cứ nước xuất khẩu dệt may nào khác. Khi áp dụng biện pháp này, hằng tháng phía Hoa Kỳ sẽ khảo sát số lượng, giá cả hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ, so sánh với nước thứ ba để đưa ra căn cứ áp dụng biện pháp chống phá giá, sẽ hai lần trong năm xem xét và có biện pháp tự vệ nếu cần thiết.

Các biện pháp giám sát của Hoa Kỳ đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam thực sự là một bất lợi cho phía Việt Nam trong bối cảnh hàng dệt may của ta không bị hạn chế bởi hạn ngạch, được tự do xuất khẩu sang Hoa Kỳ, nếu khả năng hàng nhập khẩu từ Việt Nam vào Hoa Kỳ trong những tháng đầu năm 2007 sẽ tăng đột biến về số lượng, giảm đơn giá xuất khẩu trên đơn vị sản phẩm. Việc trước đây áp dụng hạn ngạch xuất khẩu hàng dệt may với số lượng hạn chế đòi hỏi các nhà sản xuất chọn lựa đơn hàng theo hướng chọn đơn hàng giá cao nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Ngược lại nay việc không bị áp đặt hạn ngạch dễ làm cho các DN xuất khẩu hàng dệt may của ta sẵn sàng nhận làm các đơn hàng giá thấp, mẫu mã đơn giản, vải vóc nguyên liệu rẻ tiền, có thương hiệu không nổi tiếng bán cho tầng lớp người nghèo ở Mỹ dẫn đến khả năng làm tăng đột biến về số lượng hàng xuất, làm giảm giá bình quân trên một đơn vị sản phẩm.

Bản thân các nhà nhập khẩu lớn Hoa Kỳ cũng rất lo ngại nếu Hoa Kỳ áp đặt một trong các biện pháp tự vệ đối với Việt Nam. Trước hết, ta cực lực phản đối cơ chế này vì nó là sự áp đặt đơn phương của phía Hoa Kỳ, chưa hề được trao đổi với phía Việt Nam. Chúng ta chủ trương yêu cầu Hoa Kỳ chỉ thực hiện các biện pháp phù hợp với các quy định của WTO mà cả Việt Nam và Hoa Kỳ là thành viên. Mặt khác, chúng ta cũng phải chuẩn bị và nghiên cứu cơ chế điều hành sao cho phù hợp nhất tránh bị kiện chống phá giá và gian lận thương mại. Liên Bộ và Hiệp hội cũng đã tổ chức ba cuộc họp tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP HCM từ ngày 22 đến 25-12-2007 để phổ biến và lắng nghe ý kiến của DN đề xuất cơ chế điều hành hàng dệt may thời kỳ hậu hạn ngạch có hiệu quả nhất.

Hỏi: Lý do hai bên phải gia hạn Hiệp định dệt may Việt Nam - Hoa Kỳ đến ngày 12-1-2007?

Thứ trưởng Lê Danh Vĩnh: Từ giữa tháng 11-2006 đến nay, việc có nhiều DN dự đoán thời điểm nước ta gia nhập WTO, việc ta không bị áp hạn ngạch dệt may nữa và sức ép từ khách hàng đã dẫn đến tình trạng rất nhiều DN xuất hàng dệt may sang Hoa Kỳ khi chưa được phân giao hạn ngạch trong khi Liên Bộ hầu như không còn hoặc còn lại một lượng hạn ngạch năm 2006 rất nhỏ không đủ để phân giao, đặc biệt là gây tình trạng ứ đọng các Cat nóng chưa được thông quan tại Hoa Kỳ, lưu kho lưu bãi... gây thiệt hại lớn về uy tín và vật chất cho DN.

Theo quy định hiện hành, Ủy ban giám sát việc thực hiện các thỏa thuận dệt may của Hoa Kỳ (CITA) sẽ áp dụng theo đúng những tiền lệ mà tổ chức này đã đặt ra đối với các nước khác trong thời kỳ quá độ. Theo đó, Hoa Kỳ sẽ không cho phép nhập vào Hoa Kỳ những lô hàng vượt quá hạn ngạch của năm trước, năm bãi bỏ hạn ngạch (đối với ta là năm 2006). Từ ngày 12-2-2007, mỗi tháng, họ có thể cho phép nhập vào một lượng tương đương 5% hạn ngạch cơ bản cho năm 2006 cho đến khi hết số lượng tồn tại cảng.

Như vậy các lô hàng dệt may của Việt Nam đã và đang đến cảng Hoa Kỳ sẽ không có cơ hội nhập khẩu vào thị trường, phải chịu phí lưu kho bãi rất lớn và nhiều thiệt hại liên quan khác. Các lô hàng dệt may đang chờ xuất khẩu phải đợi đến 11-1-2007 mới được xuất khẩu cũng mất rất nhiều chi phí.

Để có thể giải quyết được những ách tắc nói trên, giảm gánh nặng về lượng hàng xuất tăng đột biến sang Hoa Kỳ đầu năm 2007, trong khi Hoa Kỳ có thể áp một cơ chế chống phá giá đặc biệt chưa từng có đối với Việt Nam, Liên Bộ Thương mại - Công nghiệp đã quyết định đề nghị với Hoa Kỳ gia hạn Hiệp định dệt may Việt Nam - Hoa Kỳ của cả năm 2007 đến hết ngày 11-1-2007.

Việc gia hạn Hiệp định dệt may đã làm cho quan hệ thương mại dệt may giữa hai nước trở thành bình thường, không bị gián đoạn, giúp tháo gỡ khó khăn cho DN xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam và nhập khẩu hàng dệt may của Hoa Kỳ, đặc biệt các DN đã thực xuất.

Hỏi: Vậy các giải pháp cụ thể để thực hiện Hiệp định Dệt may Việt Nam - Hoa Kỳ được gia hạn, thưa thứ trưởng?

Thứ trưởng Lê Danh Vĩnh: Ngay khi có thông báo của Ủy ban Thực thi các Hiệp định Dệt may Hoa Kỳ vào khoảng 3h30 chiều ngày 19-12-2006 (giờ Thủ đô Washington) tức là 3h30 sáng ngày 20-12-2006 giờ Hà Nội, về việc gia hạn Hiệp định Dệt may Việt Nam - Hoa Kỳ của năm 2007, Liên Bộ Thương mại - Bộ Công nghiệp đã khẩn trương ban hành thông báo số 0612/BDM-BTM ngày 20-12-2006, thông báo việc cấp visa tự động cho tất cả các Cat. áp hạn ngạch dệt may xuất khẩu sang Hoa Kỳ kể từ ngày 20-12-2006 đến ngày 11-1-2007 khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO. Bộ Thương mại đã giải tỏa toàn bộ tiền ký quỹ/thư bảo lãnh ngân hàng của thương nhân trong việc sử dụng hạn ngạch hàng dệt may được cấp trong năm 2006.

Như vậy, với việc gia hạn Hiệp định dệt may, các DN dệt may Việt Nam được hưởng cơ chế xuất khẩu tự do sớm hơn, đem lại nhiều cơ hội mở rộng thị trường hơn.

Việc được gia hạn Hiệp định Dệt may là một tin rất đáng mừng cho ngành dệt may nói chung và các DN dệt may xuất khẩu sang Hoa Kỳ nói riêng. Chúng ta sẽ được ứng trước hạn ngạch của năm 2007 để có thể giải phóng các lô hàng hiện đã xuất khẩu bị ứ đọng bên Hoa Kỳ vì không có hạn ngạch, được thông quan và giải quyết các lô hàng đang chờ xuất khẩu, tránh được rất nhiều thiệt hại vật chất nặng nề cho các DN đã và chờ xuất khẩu, không để gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của DN do không được giao hàng đúng tiến độ.

Hỏi: Thứ trưởng có thể cho biết đánh giá của các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ và triển vọng xuất khẩu hàng dệt may năm 2007 cùng các biện pháp đối phó với cơ chế giám sát hàng dệt may Việt Nam mà Hoa Kỳ vừa khởi xướng?

Thứ trưởng Lê Danh Vĩnh: Các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ, các quan chức Bộ Thương mại Hoa Kỳ và USTR đánh giá trong hai năm gần đây Việt Nam chúng ta đã thực thi việc phân bổ và điều hành hạn ngạch tốt nhất trong số các nước bị áp hạn ngạch: công khai, minh bạch, công bằng và đạt hiệu quả cao, gần 25 chủng loại bị áp hạn ngạch năm 2006 đều đạt tỷ lệ thực hiện hơn 90% tới 100%, tức là không có chủng loại nào bị coi là Cat nguội nữa (năm 2005 cũng mới chỉ có 9 chủng loại đạt tỷ lệ sử dụng hạn ngạch hơn 90% được gọi là Cat.nóng).

Thổ Nhĩ Kỳ đã bỏ hạn ngạch cho Việt Nam và Liên Bộ Thương mại - Bộ Công nghiệp đã tuyên bố bãi bỏ toàn bộ việc cấp phép xuất khẩu sang thị trường này và áp dụng quản lý như các mặt hàng thông thường khác.

Đối với hoa Kỳ, theo các cam kết song phương khi gia nhập WTO và một số cam kết đơn phương của Hoa Kỳ với hai thượng nghị sĩ, do tính nhạy cảm và bảo hộ cao của thị trường này, sau khi phân tích những diễn biến đã xảy ra đối với hàng dệt may xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ của Trung Quốc trong năm 2005 và 2006, hậu quả của vụ kiện chống bán phá giá của Hoa Kỳ đối với ngành sản xuất áo len của Đài Loan, nhất là ý kiến của Tập đoàn mast Industries (Tập đoàn này mua 270 triệu USD từ Việt Nam trong tổng số gần 3,2 tỷ USD xuất khẩu từ Việt Nam vào Hoa Kỳ năm 2006), việc Hoa Kỳ khởi động hệ thống giám sát làm cho nhiều nhà nhập khẩu Hoa Kỳ đã rất lo ngại và cắt giảm nhiều đơn hàng từ Việt Nam, nhất là đơn hàng từ quý 3/2007 để tránh khả năng Hoa Kỳ khởi kiện, truy thu hồi tố số thuế cho lượng hàng đã nhập từ tháng 6-2007 (thời điểm dự kiến Hoa Kỳ sơ kết giám sát và có thể đưa ra quyết định khởi động điều tra).

Việc loại bỏ hạn ngạch làm cho nhiều DN dễ dàng nhận thêm nhiều đơn hàng giá rẻ, đơn giản, chất lượng thấp, không có tên tuổi thương hiệu sẽ thúc đẩy tỷ lệ loại giá rẻ tăng lên, giá trung bình trên một sản phẩm giảm mạnh trong khi lượng lại tăng dễ làm khởi động hệ thống tự vệ của nước nhập khẩu.

Liên Bộ và Hiệp hội Dệt may Việt Nam đã đề xuất các giải pháp phòng ngừa và đối phó với tình trạng tăng xuất khẩu ồ ạt kèm theo giảm giá, ngăn ngừa chuyển tải bất hợp pháp, kể cả các biện pháp cải cách hành chính nhằm giảm bớt thủ tục. Hầu hết các DN đều nhận thức được sự cần thiết của các biện pháp giám sát phòng ngừa của Liên Bộ, Hiệp hội và Phòng Thương mại và Công nghiệp đề xuất và đóng góp thêm một số ý kiến để những cơ chế giám sát đó tạo thuận lợi hơn cho DN.

Ý kiến của các DN sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may về những đề xuất của Hiệp hội dệt may Việt Nam với việc ứng phó cơ chế giám sát hàng dệt may của Hoa Kỳ.

Có 218 phiếu góp ý (mỗi công ty một phiếu) của những DN thực sự đã xuất khẩu hàng dệt may vào Hoa Kỳ, có hiểu biết về thị trường Hoa Kỳ. Kết quả cụ thể như sau:

1. Đồng ý cấp Giấy chứng nhận xuất khẩu: 86% / Không đồng ý cấp Giấy chứng nhận xuất khẩu: 14%

2. Đồng ý áp dụng biện pháp quản lý giá tối thiểu: 97% / Không đồng ý áp dụng biện pháp quản lý giá tối thiểu: 3%.

3. Đồng ý Phòng quản lý Xuất nhập khẩu (Bộ Thương mại) cấp Giấy chứng nhận xuất xứ cùng Phòng Thương mại và Công nghiệp: 82%. / Đồng ý Phòng quản lý Xuất nhập khẩu (Bộ Thương mại) cấp Giấy chứng nhận xuất xứ, Phòng Thương mại và Công nghiệp không cấp: 20% / Đồng ý Phòng Thương mại và Công nghiệp cấp, Phòng quản lý Xuất nhập khẩu (Bộ Thương mại) không cấp Giấy chứng nhận xuất xứ: 16%.

Liên Bộ Thương mại - Công nghiệp và Hiệp hội Dệt may Việt Nam sẽ trình Chính phủ để xin phép thực hiện những biện pháp mà đa số DN và Hiệp hội đề nghị áp dụng.

Có thể bạn quan tâm