Hà Nội, là muôn năm, là sáng tạo, hào hoa

Điện Kính Thiên. Ảnh: suutamvagioithieu.vn
Điện Kính Thiên. Ảnh: suutamvagioithieu.vn

Tháng 7- 1976, Kỳ họp từ nhất Quốc hội khóa VI đã quyết định lấy Hà Nội làm thủ đô của Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam .

Hà Nội trở thành trái tim của cả nước.

Nhưng để được coi là trái tim, để thật sự là trái tim, không phải có được từ một quyết định hành chính nào. Nó được quyết định bởi  sự hướng về của muôn lòng dân Việt. Ngày trước, quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, ông ngoại Nguyễn Trãi từng viết:

Thanh hạ mỗi tần tông xã niệm

Liệu tri mộng mị đáo Thăng Long

(Nhàn tản không quên niềm xã tắc

Mơ màng giấc điệp vẫn Thăng Long)

Và nhà thơ, nhà yêu nước Huỳnh Văn Nghệ cũng nói lên điều này trong bài thơ nổi tiếng Nhớ bắc:

Từ thuở mang gươm đi mở cõi

Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long…

Trong suốt nhiều nghìn năm dựng nước và giữ nước, cha ông ta tuỳ theo điều kiện lịch sử, địa lý, đã định đô trên nhiều vùng đất khác nhau. Mỗi cố đô đều được lưu giữ trong ký ức của nhân dân với niềm tự hào, với những tình cảm thiêng liêng.

Nhưng nói về cố đô, cố đô xưa nhất được ghi chép rõ ràng trong sử sách hơn cả; hiện tồn di tích lại là Hà Nội. Đó là kinh đô Cổ Loa của nước Âu Lạc thời An Dương Vương (257- 208 Trước Công nguyên).

Chúng ta thường nói về địa linh. Trong Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ Công Uẩn nói về vùng đất này như sau: “Thành Đại La ở vào nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn, hổ ngồi; đã đúng ngôi Nam- Bắc- Đông- Tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi… Địa thế rộng mà bằng phẳng; đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”.

Trong công cuộc đông tiến từ rừng núi xuống đồng bằng, người Việt cổ đã gặp được một vùng đất cao ráo ven sông để lập làng, ấy là Hương Long Đỗ, đất rốn rồng, sau tựa núi Tản Viên, tổ sơn của nước Việt, trước nhìn ra sông Hồng, sông Mẹ mênh mông chan chứa Phù sa bồi bãi… Với người dân nông nghiệp, cao địa để tránh khỏi lụt lội, nơi có thể sinh ra những sản vật dồi dào, được coi là linh địa, có sức tụ hội bốn phương. Hương Long Đỗ với sức hội tụ ấy, sau này trở nên thành, nên thị, nên thủ đô.

Địa linh sinh nhân kiệt, nhân kiệt bồi bổ địa linh. Danh nhân đầu tiên của Hà Nội là Tô Lịch, người có công lập nên hương Long Đỗ, truyền danh nghề nghiệp và đạo lý làm người, được thờ làm Thành hoàng của Hà Nội. Ông còn là một người có kiến thức uyên bác về mọi mặt, nhất là địa lý, để sau này hiển thánh, đến Cao Biền của Tàu cũng phải sợ hãi, thán phục, xây đền thờ ông, chính là Đền Bạch Mã…

Cùng với Tô Lịch, Phù Đổng Thiên Vương, những người con Hà Nội đã làm vẻ vang cho non sông đất nước còn có Lý Thường Kiệt, các danh tướng thời Trần, vua Lê Thánh Tông, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Siêu, Cao Bá Quát…. Và có thể nói hầu hết danh nhân trở nên danh nhân đều được sống, học tập, hút hương nhuỵ của kinh đô Thăng Long- Hà Nội.

Lấy Hà Nội với thành Đại La là trung tâm thì châu tuần quanh Hà Nội, Có Kinh Bắc (Bắc Giang, Bắc Ninh, Gia Lâm cũ) xứ Đông (Hưng Yên, Hải Dương), xứ Đoài (trấn Sơn Nam Thượng), Hà Nam, Nam Định (trấn Sơn Nam Hạ) những vùng văn hoá lớn của Đồng bằng sông Hồng, nơi thời nào cũng sinh ra những anh hùng nhân kiệt. Sĩ phu Bắc Hà chính là chỉ ở vùng đất này. Các châu lộ xa có đóng góp cho thủ đô những nhân tài, nhưng phía khác, có mặt nổi bật hơn, chính Thăng Long – Hà Nội là nguồn cung cấp nhân tài cho các địa phương, làm nên những dòng họ gia thế, những phẩm chất văn hoá mới cao hơn. Với nghĩa đó, Hà Nội là trái tim hồng, đưa máu đỏ làm hồng hào Tổ quốc.

Là trung tâm kinh tế, chính trị, trung tâm văn hoá, Hà Nội – Thăng Long quyết định vận mệnh thịnh suy của đất nước.

Người Hà Nội và đất Hà Nội thủ đô là nơi sản sinh và kết tinh những tinh hoa văn hoá dân tộc, làn nên bản sắc Việt, tinh thần Việt.

Trước hết đó là tinh thần nhân bản, đề cao con người và quyền sống của con người. Khác với một số quan niệm đề cao cá nhân một cách cực đoan, người Hà Nội, người Việt Nam tìm được con đường giải phóng cá nhân ngay chính trong con đường hoà mình vào người khác, biết tìm thấy hạnh phúc, sức mạnh trong sự cố kết với người khác (Thương người như thể thương thân; Một cây làm chẳng nên non, Ba cây chụm lại nên hòn núi cao).

Một nét chủ đạo, đặc sắc nhất, tinh anh nhất, sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử nước ta chính là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần độc lập dân tộc. Từ thủ đô này đã nhiều lần vang lên những lời hịch cứu nước, những tuyên ngôn độc lập sang sảng hào khí vang vọng muôn sau. Không người Việt Nam nào lại không thuộc và khắc ghi trong tâm khảm và truyền đời Nam quốc sơn hà, Nam đế cư của Lý Thường Kiệt; Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu, Núi sông bờ cõi đã chia, Phong tục bắc-nam cũng khác của Nguyễn Trãi; Không có gì qúy hơn độc lập tự do; Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải chiến đấu quét sạch nó đi của Hồ Chí Minh. Tinh thần ấy còn được quy định trong luật pháp. Vua Trần Nghệ Tông từng nói : “Triều trước dựng nước có luật pháp, chế độ không theo quy chế của nhà Tống vì Nam - Bắc nước nào làm chủ nước đó”. Trong mọi bộ luật của mọi thời, tội phản quốc được quy định là tội nặng nhất. Trong hành xử của mỗi người, hiến thân vì nước được coi là thiêng liêng nhất.

Cũng chính từ thủ đô Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội này, nhiều tư tưởng lớn đã phát sinh. Trước hết là tư tưởng nhân nghĩa . Tư tưởng nhân nghĩa ấy lại hoà quyện sâu sắc vào tư tưởng dân chủ, vì dân Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân (Nguyễn Trãi).

Một tư tưởng cực kỳ vĩ đại và sâu sắc khác, tức là coi trọng hiền tài. Khi Thân Nhân Trung, cách đây hàng trăm năm đã khắc vào bia đá Văn Miếu - Quốc Tử Giám rằng, Hiền tài là nguyên khí quốc gia thì đất nước ấy không thể không tìm thấy sức mạnh để phát triển, trường tồn cùng trời đất. Và cũng thật lạ, cho đến ngày nay, vẫn có kẻ vẫn không thấu hiểu điều đó, muốn lấy tay che ánh mặt trời!

Không có nơi nào có số lượng di sản vật thể dày đặc như Hà Nội. Nhưng có những di sản, những đền đài phi vật thể còn có ý nghĩa to lớn với muôn sau còn hơn những đền đài mắt thường chiêm ngưỡng.

Chẳng hạn luật pháp. Trải qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê …tuy thảng hoặc có những ông vua ngu hèn, dâm bạo, nhưng về cơ bản, cha ông ta đã xây dựng nên một nền chính trị theo phương hướng vương đạo, những nguyên tắc ứng xử bảo đảm tối đa tính nhân văn và sự công bằng. Luật nghiêm với quan, khoan với dân. Ngay khi mới lên ngôi  (tháng giêng năm 1428), Lê Lợi đã “Hạ lệnh cho các tướng hiệu và các quan rằng : từ xưa đến nay, trị nước phải có pháp luật … trên dạy các quan, dưới đến nhân dân, cho biết thế nào là thiện ác, điều thiện thì làm, điều ác thì tránh”. (Đại Việt sử ký toàn thư, NXB KHXH 1968, tr.59).

Quốc triều Hình luật, hay còn gọi là Luật Hồng Đức (lấy hiệu của vua Lê Thánh Tông) là bộ luật xưa nhất còn lưu giữ được (tại Viện Hán – Nôm, bản A.341) thể hiện rất rõ tinh thần “nghiêm với quan, khoan với dân” nói trên. Điều 35 quy định “Những cận thần không được giao du, quà cáp với người bên ngoài, trái lệnh thì cận thần và người ngoài đều chịu tội đồ (giam, lao động khổ sai) hay lưu (đầy). Điều 197 : “Những quan liêm phóng (mật tra )… nếu vì báo ân, báo oán hay ăn hối lộ mà đổi trắng thay đen, thì không kể việc lớn hay nhỏ, ăn nhiều hay ít, đều bị xử tội lưu hay tội chết”. Với dân, luật có thiên hướng nhân đạo : “Phàm ăn trộm tài vật của người mà sau lại tự thú với người mất của thì cũng coi như là thú ở cửa quan” (điều 19); “Khi còn bé phạm tội, đến khi lớn mới phát giác, thì xử tội theo luật khi còn bé” (điều 17) …

Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, có lẽ những huyền thoại, cổ tích xuất xứ từ Hà Nội cũng có ý nghĩa sâu sắc hơn cả. Người ta nói Thăng Long phi chiến địa nhưng không có cuộc chiến tranh nào mà Thăng Long không bị tàn phá. Nhà Trần, ba lần quân Nguyên đều chiếm Thăng Long, một Thăng Long vườn không nhà trống. Hết quân Nguyên rồi đến quân Minh, quân Chiêm Thành. Đế quốc Mỹ cũng từng đem B.52 rải thảm vào Hà Nội tháng Chạp năm 1972,hòng đưa Hà Nội về thời kỳ đồ đá. Mỗi lần như vậy, Hà Nội lại đứng lên, ngời sáng hơn. Thanh gươm thần náu sâu dưới lòng Hồ Gươm, náu sâu trong lòng mỗi người dân nước Việt, nhắc nhớ cho ta, răn bảo cho mọi kẻ thù. Truyện An Dương Vương là câu chuyện về cái giá của sự mất cảnh giác. Truyện về Thánh Gióng là chuyện về sức mạnh ản chứa, về toàn dân đánh giặc, là chuyện về sự lớn dậy một cách kỳ diệu của dân tộc mỗi khi có nạn ngoại xâm, mỗi khi gặp thách thức cam go của lịch sử…

Một nghìn năm trước, Lý Thái Tổ đã nhìn thấy dáng Rồng bay trên bầu trời Hà Nội mà định đô, định nghiệp lâu dài. Và quả thực, dự đoán và hy vọng của tiên đế đã không sai. Một nghìn năm sau kể từ ngày đó, Hà Nội không chỉ có những ngôi nhà chọc trời hoà dáng với Tô-ky-ô, Thượng Hải, Niu Óoc … mà còn là Thành phố vì hoà bình, một hướng vọng phát triển hài hoà mà điều được tôn cao nhất là phẩm giá con người , đang được cả thế giới trông về.

Ngày đầu tiên của năm mới Canh Dần 2010 đã mở thắm trong muôn cánh hoa đào. Năm nay là năm Hà Nội, năm Đảng thân yêu. Hà Nội là muôn năm, là trẻ, là hào hoa, sáng tạo. Đảng là muôn năm, là trẻ, là hào hoa, sáng tạo. Dường như trái tim trăm triệu dân nước Việt đang rộn rã đập lên nhịp đập cuộn dâng sức sống tươi tắn phì nhiêu của sông Hồng cuồn cuộn, nhịp đập dâng lên sức mạnh của cả nghìn năm trước… Trong sáng mai này, tôi bỗng nhớ, bỗng muốn cùng đọc to lên những câu thơ của Huy Cận trong bài Đón kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, muốn hành động, muốn hiến dâng vì Hà Nội, như Hà Nội :

Hà Nội nghìn năm biển cồn, sóng nổi

Hãy bay lên theo khí thế Thăng Long

Vinh quang rồi, không chỉ ngồi đếm tuổi

Nước cuộn phì nhiêu mới là nước sông Hồng .

Có thể bạn quan tâm