Gần 40 nhà khoa học, chuyên gia làm chính sách, nhà quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp, đã đóng góp ý kiến góp phần để thực hiện có hiệu quả tám nhóm giải pháp mà Chính phủ đã đưa ra.
Dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu cùng bạn đọc những nội dung chính của các bài viết gửi đến Ban tổ chức và các ý kiến trao đổi trực tiếp tại cuộc tọa đàm.
Làm rõ thực trạng
Trong lời đề dẫn, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân Ðinh Thế Huynh nêu rõ, ba tháng đầu năm, tình hình kinh tế - xã hội của đất nước có những diễn biến không thuận, tốc độ tăng trưởng kinh tế tuy vẫn duy trì được mức tăng khá nhưng có dấu hiệu bị chững lại, lạm phát tăng cao. Ðã xuất hiện tâm lý lo lắng trong nhân dân do giá cả tăng cao, đời sống khó khăn. Trong những tháng còn lại của năm 2008, diễn biến giá cả, thị trường thế giới vẫn rất phức tạp, khó lường và còn tiếp tục tác động mạnh đến việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. Nhằm góp phần cùng cả nước thực hiện tốt các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2008, Ban tổ chức cuộc tọa đàm đề nghị các đại biểu tập trung thảo luận, đánh giá và phân tích sâu sắc tình hình, nguyên nhân dẫn đến lạm phát, dự báo những thuận lợi, khó khăn của kinh tế, từ đó kiến nghị với Ðảng và Nhà nước những giải pháp thiết thực để kiềm chế, đẩy lùi, hạn chế tác động của lạm phát, thúc đẩy kinh tế phát triển.
Nhiều đại biểu đã gửi bài tham luận và phát biểu tại cuộc tọa đàm, tập trung phân tích nguyên nhân, thực trạng của lạm phát trong giai đoạn hiện nay, cách tiếp cận vấn đề nhằm đưa ra hướng giải quyết một cách cụ thể nhất.
Theo Tiến sĩ Cao Sỹ Kiêm, từ năm 1986 trở lại đây, Việt Nam đã có ba cuộc lạm phát ở mức 2-3 con số. Lần thứ nhất là những năm 1986-1993, lạm phát ở mức 600-700%, chủ yếu do mất cân đối về quan hệ tiền hàng. Lần thứ hai là khủng hoảng tài chính, tiền tệ khu vực châu Á năm 1997 tác động bên ngoài vào nước ta và lần này, có cả yếu tố bên trong và bên ngoài trong điều kiện nước ta hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới. Nguyên nhân chủ quan lạm phát tích tụ nhiều năm ở ba lĩnh vực chủ yếu: về cơ cấu kinh tế đang bộc lộ những vấn đề không hợp lý như đầu tư dàn trải, tăng trưởng với hệ số ICOR ngày càng cao, lượng tiền lớn tung ra lưu thông, nhưng hàng hóa sản xuất ra không tương xứng quan hệ cung cầu, làm cho hàng - tiền bị phá vỡ. Nhập siêu liên tục tăng với số lớn khiến cán cân thương mại, cán cân thanh toán ngày càng thâm hụt nghiêm trọng. Về chính sách tài khóa trong vòng 10 năm liên tục ở mức bội chi ngân sách so với GDP ở mức cao 5% cộng với tình trạng thất thu ngân sách không được giải quyết triệt để và chi tiêu hành chính không được kiểm soát chặt chẽ gây lãng phí, thất thoát, gây áp lực lạm phát nghiêm trọng.
Tiến sĩ khoa học Nguyễn Thị Hiền cho rằng, những năm gần đây lạm phát vẫn được duy trì ở mức thấp trong khi lượng phát hành cho tín dụng đầu tư không nhỏ. Ðiều này thoạt nhìn có vẻ khó giải thích, nhưng nếu xét đến những khoản tiền đổ vào những dự án đầu tư với thời gian hoàn vốn lâu, hiệu quả thấp thì những mất mát của nền kinh tế do thất thoát nguồn vốn ngân sách và tình trạng đầu tư kém hiệu quả chắc cũng không kém những thiệt hại do lạm phát gây ra. Sự thiếu kết hợp giữa các ngành trong việc ra các quyết định hành chính liên quan hành động của người dân và doanh nghiệp cũng làm tăng chi phí của doanh nghiệp và nền kinh tế nói chung.
Tiến sĩ Nguyễn Ðức Kiên, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, cho rằng, một số vấn đề cần được tiếp tục phân tích làm rõ như lạm phát ảnh hưởng đến đời sống của đại bộ phận nhân dân như thế nào, nhất là đối với những người làm công ăn lương. Tăng giá bao giờ cũng kèm theo giá lương thực, thực phẩm tăng cao. Trong khi đó, 73% dân số nước ta sống bằng nông nghiệp và chúng ta là một nước xuất khẩu gạo (4,3 triệu tấn trong năm 2007). Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì dịch bệnh cúm gia cầm và dịch lợn tai xanh trong năm 2007 chiếm 1,7- 2% tổng đàn gia súc nuôi trong năm. Sao giá lương thực thực phẩm của ta lại cao? Phải chăng khi thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp, chúng ta đã xóa bỏ toàn bộ hệ thống đại lý của thương nghiệp, cho nên tất cả các tổng công ty thương nghiệp đã mất chân rết để khống chế thị trường? Hay là chúng ta đang thực hiện những biện pháp nào không phù hợp, làm cho việc điều tiết thị trường gặp khó khăn?
PGS, TS Trần Ðình Thiên, Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng, có ba nhóm nguyên nhân: Thứ nhất, nhóm các nguyên nhân bên ngoài là giá cả quốc tế, thiên tai dịch bệnh, dòng đầu tư quốc tế đổ vào đột biến. Thứ hai, nhóm các nguyên nhân bên trong dài hạn, có nguồn gốc cơ chế - cơ cấu. Thứ ba, nhóm các nguyên nhân ngắn hạn trực tiếp, gắn với cách điều hành, phản ứng chính sách trong nỗ lực kiềm chế lạm phát và ổn định vĩ mô.
Cần đặt mục tiêu kiềm chế lạm phát trong khuôn khổ rộng hơn bản thân nhiệm vụ chống lạm phát, phải kiên định trong hành động dành ưu tiên hàng đầu cho mục tiêu chống lạm phát, nhưng đó cũng chỉ là một bộ phận của nhiệm vụ lớn và phức tạp hơn là ổn định kinh tế vĩ mô.
TS Trần Ðình Thiên nhận định, các nhóm giải pháp chống lạm phát mà Chính phủ đưa ra là phù hợp, điều quan trọng hiện nay là trong những tình huống cụ thể cần xác định, dùng giải pháp nào, liều lượng ra sao, phối hợp các công cụ và giải pháp khác theo cách nào... Ðây là điểm khó nhất của nhiệm vụ đặt ra.
Nhóm giải pháp chính sách tiền tệ
Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Dương Thu Hương nhấn mạnh, sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan trong việc thực thi chính sách tiền tệ, các nhóm giải pháp của Chính phủ đưa ra cần được thực hiện theo một nhịp điệu.
Ðồng chí đã dẫn một thí dụ: Trong khi ngân hàng đang cố gắng điều hành lãi suất cho ổn định, thì Bộ Công thương lại cấp phép các chương trình dự thưởng, khuyến mại cho hai ngân hàng thương mại cổ phần, tạo kẽ hở để doanh nghiệp tìm cách "lách". Tình trạng "ông chặt", "ông lỏng" gây nguy hại đối với thị trường, mặt bằng lãi suất chạy từ chỗ thấp sang chỗ cao khiến cho việc ổn định mất thêm thời gian. Có thể nói Hiệp hội Ngân hàng trong thời gian qua đã cụ thể hóa các chính sách về tiền tệ theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước. Hiệp hội đã kêu gọi sự đồng thuận về mặt bằng lãi suất huy động, tạo sự thống nhất để góp phần ổn định thị trường tiền tệ. Tuy nhiên, việc giữ trần lãi suất hiện nay là "cực chẳng đã" vì ta đang tiến tới tự do lãi suất. Nhưng trong lúc này, các ngân hàng cần sự đồng thuận để cùng nhau góp phần ổn định thị trường.
Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Ðồng Tiến nhấn mạnh, cần có tính linh hoạt trong điều hành thực thi các giải pháp chống lạm phát.
Tuy nhiên, đồng tình quan điểm một số đại biểu, Phó Thống đốc cho rằng việc thực thi chính sách chắc chắn sẽ có những tác động phụ không mong muốn. Ðồng thời cũng thừa nhận tăng trưởng tín dụng trong giai đoạn vừa qua năm sau cao hơn năm trước là chưa tốt, vì vậy trong giai đoạn hiện nay việc tính toán kiểm soát tín dụng ở mức độ nào cho phù hợp đòi hỏi sự tính toán rất kỹ của ngành.
PGS, TS Ngô Trí Long nhận xét, chính sách tiền tệ trong lúc này cần phải chặt chẽ, chủ động và cực kỳ linh hoạt. Chặt chẽ không có nghĩa là thắt chặt không được cho tín dụng tăng trưởng quá cao ở mức tăng trưởng tín dụng tối đa 30%, nhưng phải đáp ứng được yêu cầu vốn cho tăng trưởng và khuyến khích phát triển nông nghiệp nông thôn.
Về chính sách tiền tệ nên ít phụ thuộc hơn vào yêu cầu dự trữ bắt buộc và phát hành trái phiếu, mà phụ thuộc nhiều hơn vào điều chỉnh lãi suất. Cấu trúc lãi suất nên hướng tới khuyến khích tiết kiệm và không nên khuyến khích hoạt động đầu cơ. Ngân hàng Nhà nước cần nâng cao năng lực trong giám sát các hoạt động ngân hàng và năng lực lập chính sách.
Về điều hành chính sách tỷ giá cần được linh hoạt hơn để có lợi cho sản xuất phát triển, chứ không chỉ xuống giá có lợi cho xuất khẩu hoặc chỉ lên giá để lợi cho nhập khẩu. Bài học kinh nghiệm từ các cuộc khủng hoảng tiền tệ gần đây cho thấy dòng vốn nước ngoài cần phải được kiểm soát đúng và điều chỉnh nếu cần thiết trong quá trình tự do hóa tài khoản vốn. Ðây như một con dao hai lưỡi, vì nếu có quá nhiều can thiệp và kiểm soát có thể tạo thành những rào cản đối với các nhà đầu tư nước ngoài và có thể dẫn đến bỏ lỡ các cơ hội thu hút vốn nước ngoài. Do vậy, cần có chính sách cụ thể để bình ổn dòng vốn nước ngoài và kiểm soát những rủi ro dẫn đến khủng hoảng tài khoản vốn mà không cần phải "hy sinh" các tiềm năng phát triển của mình.
Trưởng ban nghiên cứu chính sách hội nhập, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Võ Trí Thành khi so sánh tình hình lạm phát ở Việt Nam với khu vực Ðông Á nhấn mạnh, Việt Nam thâm hụt cán cân vãng lai và thâm hụt thương mại rất lớn. Các nước Ðông Á sau khủng hoảng đã giảm được thâm hụt ngân sách, một số nước đã bắt đầu có thặng dư ngân sách. Trong khi đó, thâm hụt ngân sách của Việt Nam tăng. Trong khi các nước đã chuyển sang một chế độ tỷ giá linh hoạt, tức là họ chống được các cú sốc từ bên ngoài tốt hơn ta, thì tỷ giá của chúng ta cơ bản bị gắn với USD quá chặt. Vì thiếu độ linh hoạt, cho nên trước các cú sốc bên ngoài chúng ta khó khăn hơn các nước. Hiện nay, lạm phát cao nên lãi suất VND phải cao, lãi suất USD thấp, tỷ giá được Nhà nước bảo lãnh ngầm là tương đối ổn định, cho nên khuyến khích đầu cơ tài chính cao hơn các nước rất nhiều. Tỷ giá linh hoạt rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay, vì linh hoạt là chống đầu cơ hai chiều trong quan hệ tài chính và phải xác định tất cả các công cụ đều có hiệu ứng phụ không mong muốn, như việc nới lỏng tỷ giá, tăng giá VND sẽ làm ảnh hưởng đến xuất khẩu. Như vậy, đối với việc sử dụng nhiều biện pháp cần có một nhóm chuyên gia phối hợp để có liều lượng phù hợp, tránh gây sốc.
Nhóm giải pháp chính sách tài khóa, chi tiêu và đầu tư công
Liên quan vấn đề thực thi chính sách thế nào cho đồng bộ, chuyên gia chứng khoán Lê Văn Châu băn khoăn, Chính phủ đưa ra các giải pháp nhưng ai sẽ là người thực hiện cụ thể. Nói cắt giảm ngân sách, cắt giảm về đầu tư, nhưng chưa có doanh nghiệp nào tự thừa nhận dự án của mình chưa hiệu quả, không một địa phương nào nói là chúng tôi có bao nhiêu dự án không hiệu quả và đề nghị Chính phủ xin tạm dừng một thời gian. Vậy ai sẽ là người đứng ra giải quyết và giải quyết như thế nào? Ðối với thị trường chứng khoán (TTCK), trong tình hình hiện nay không nên nhìn TTCK chỉ là chỉ số Index lên bao nhiêu. Ðối với nhà đầu tư kinh doanh thì quan trọng, nhưng đối với các nhà hoạch định kinh tế vĩ mô không nên lấy chỉ số này làm chuẩn trong điều kiện hiện nay. Trước đây chúng ta tạo điều kiện để doanh nghiệp ra được thị trường, vì khi ra đời, thị trường của chúng ta chỉ có hai doanh nghiệp nhỏ niêm yết. Từ năm 2005-2006 thì phong trào tương đối phát triển cho nên chúng ta lại ít chú ý về chất lượng của doanh nghiệp, đặc biệt là minh bạch hóa của doanh nghiệp, thành ra khi lên thị trường thường "vẽ" quá đẹp. Doanh nghiệp nào cũng tốt, nhưng thật ra không phải như thế. Về giá cả người dân cũng đầu tư theo kiểu phong trào, cho nên một thời gian ngắn vọt lên hơn 1.000 điểm, không phản ánh được giá trị thực. Do đó, chỉ số đó sẽ xuống, tất nhiên chúng ta đều mong muốn thị trường hoạt động mạnh hơn. Bây giờ, cái chính là Ủy ban chứng khoán Nhà nước phải tổ chức lại trên thị trường chính thức và trên thị trường OTC.
Vụ trưởng Vụ Kinh tế quốc dân (Bộ Kế hoạch và Ðầu tư) Nguyễn Ðức Tâm cho rằng, thực hiện các biện pháp kiềm chế lạm phát trong đầu tư, Chính phủ đang chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương cắt giảm, sắp xếp lại vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong kế hoạch năm 2008; Bộ Kế hoạch và Ðầu tư đang khẩn trương xây dựng nguyên tắc, tiêu chí và biện pháp cụ thể theo chủ trương này.
Tinh thần chung là, các bộ, ngành, địa phương thực hiện điều hành trong khuôn khổ tổng mức đã giao kế hoạch tại Quyết định 1569/QÐ-TTg; rà soát các thủ tục đầu tư, dự án nào thiết kế ban đầu không còn phù hợp, hiệu quả đầu tư kém thì đình hoãn, tập trung vốn cho các công trình có khả năng hoàn thành trong năm 2008; đưa ra khỏi danh mục các dự án xét thấy không còn hiệu quả, tiến độ triển khai quá chậm, dự án chưa rõ nguồn vốn cân đối trong các năm sau. Những dự án dự kiến khởi công trong năm 2008, nhưng đến hết tháng 3-2008 chưa có quyết định phê duyệt dự án đầu tư, quyết định phê duyệt thiết kế kỹ thuật và dự toán theo quy định thì tạm thời đình hoãn. Hạn chế tối đa việc điều chỉnh dự án, nhất là việc điều chỉnh tăng quy mô đầu tư, dẫn đến làm tăng tổng mức đầu tư. Hạn chế cao nhất việc ứng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cho kế hoạch năm 2009 để triển khai các dự án trong năm 2008. Trường hợp thật cần thiết, dự án cần phải đẩy nhanh tiến độ thì phải điều chỉnh giảm vốn của các dự án khác để tập trung vốn.
Ðối với các dự án sử dụng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, chỉ phân bổ vốn đầu tư cho các dự án đầu tư đã được thông báo tại Quyết định 171/2006/QÐ-TTg. Các dự án sử dụng nguồn vốn tín dụng nhà nước thì ngân hàng phát triển phải rà soát các dự án đang vay vốn tại ngân hàng; những dự án xét thấy không còn hiệu quả, những dự án hợp vốn, nhưng chưa rõ các nguồn vốn tham gia hoặc chưa huy động được các nguồn khác (theo đúng quyết định đầu tư), những dự án xét thấy không có khả năng trả nợ... cần được xem xét kỹ trước khi cho vay, trường hợp cần thiết phải đình hoãn, dãn tiến độ để có quyết định phù hợp hơn. Các dự án dự kiến khởi công mới trong năm 2008, phải được xem xét đầy đủ các yếu tố về thủ tục đầu tư, tính cấp bách của dự án, khả năng huy động các nguồn vốn và trả nợ của dự án. Các dự án đang triển khai, nhưng xét thấy chưa rõ về hiệu quả, hoặc hiệu quả đầu tư thấp, không có khả năng trả nợ thì tạm thời chưa cấp vốn cho vay tiếp. Chủ đầu tư căn cứ vào khả năng các nguồn vốn huy động khác (vốn của doanh nghiệp, vốn do doanh nghiệp vay từ các tổ chức, cá nhân khác), xem xét lại hiệu quả đầu tư, khả năng trả nợ của dự án, quyết định tiến độ của dự án. Nếu thấy cần bảo đảm tiến độ thì trước mắt huy động các nguồn vốn khác để triển khai.
Tiến sĩ Lý Minh Khải (Tổng cục Thống kê) nhận xét, để cắt giảm được các dự án đầu tư chưa cần thiết và kém hiệu quả, tập trung vốn cho các dự án có hiệu quả và có khả năng sớm hoàn thành đưa vào sản xuất kinh doanh, tạo ra sản phẩm cho xã hội thì trước hết phải có một cuộc tổng rà soát cụ thể để đưa ra được một danh mục các dự án nào cần cắt giảm, dự án nào dãn thời gian thực hiện.
Ðối với những dự án cần cắt giảm phải thực hiện một cách thật kiên quyết thì chủ trương này mới hy vọng có kết quả như mong muốn, vì đây là lĩnh vực nhạy cảm, liên quan lợi ích rất nhiều bên. Còn việc tiết kiệm chi tiêu của các cơ quan sử dụng ngân sách Nhà nước là rất cần thiết, do trên thực tế nhiều khoản chi tiêu này còn tiêu rất lãng phí. Nhưng nếu chỉ tiết kiệm 10% e rằng còn quá ít so với những khoản chi tiêu còn lãng phí to lớn hiện nay.
Tiến sĩ Trần Ðình Thiên (Viện Kinh tế Việt Nam) nêu một vài gợi ý, hạn chế tối đa việc dùng các giải pháp, chính sách theo kiểu "đánh đùng", "gây sốc"; tập trung vào những giải pháp mang tính kinh điển, những công cụ và giải pháp thuộc hai kênh tác động mạnh nhất và trực tiếp nhất đến ổn định vĩ mô, các công cụ chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, cắt giảm chi tiêu ngân sách, nâng hiệu quả đầu tư công, chính sách thương mại (tỷ giá); lưu ý các giải pháp mang tính căn bản, dài hạn, tạo điều kiện cho thị trường thông suốt (đồng bộ và ít bị chia cắt), chống độc quyền và hạn chế tác động của các nhóm lợi ích, đẩy mạnh cải cách khu vực DNNN. Ðể phối hợp tốt mục tiêu là công cụ chính sách, bảo đảm sự nhất quán trong nỗ lực hành động, cần có một "bộ tham mưu thống nhất" của Chính phủ trong việc điều hành, phối hợp chống lạm phát.
Chỉ với "Bộ tham mưu thống nhất" có đủ quyền lực thì Chính phủ mới tập trung được sức mạnh, thống nhất ý chí, có tầm nhìn bao quát và dài hạn khi thực thi nhiệm vụ ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng bền vững.
Nhóm giải pháp để tháo gỡ khó khăn vướng mắc, bảo đảm cho đầu tư và sản xuất kinh doanh phát triển ổn định
Chủ tịch HÐQT Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam Ðỗ Tất Ngọc cho rằng, đầu tư cho nông nghiệp nông thôn đang gặp khó khăn. Mặc dù, được NHNN ưu tiên không phải tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc (DTBB), không phải mua tín phiếu bắt buộc, hỗ trợ 4.000 tỷ đồng thông qua cho vay cầm cố giấy tờ có giá để NHNo cho vay thu mua lương thực và vùng bị rét đậm, rét hại... Tuy nhiên, trong bối cảnh chung nên nguồn vốn huy động vẫn bị giảm. Ðến cuối tháng 2-2008, vốn huy động của khách hàng giảm hơn 11 nghìn tỷ đồng (4,6% so đầu năm), do vậy không đáp ứng được nhu cầu của nông nghiệp và hộ nông dân. Chỉ tính 30 chi nhánh có dư nợ hộ nông dân chiếm 70% tổng dư nợ trở lên, có nhu cầu vốn cho nông dân hơn 121 nghìn tỷ đồng, trong khi các chi nhánh chỉ tự huy động được hơn 90 nghìn tỷ đồng. Với mục tiêu tăng trưởng cho vay hộ nông dân 30% so năm 2007 thì số vốn của NHNo cần được hỗ trợ bằng các biện pháp được vay cầm cố các giấy tờ có giá, không phải gửi bắt buộc tại ngân hàng chính sách xã hội, được dùng vốn kho bạc để cho vay nông nghiệp và được bán hết ngoại tệ từ các doanh nghiệp xuất khẩu nông nghiệp với giá hợp lý.
Chủ tịch HÐQT Tập đoàn công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam Ðoàn Văn Kiển cho rằng, lạm phát là tạm thời, cần có cơ chế quản trị, điều hành theo tình hình thực tế, không nên quy định "cứng" về chỉ tiêu tăng trưởng hay lạm phát. Lạm phát hiện nay trong điều kiện kinh tế thế giới khan hiếm hàng hóa, do đó, cần có cơ chế định giá xuất khẩu phù hợp, coi đây là cơ hội để tăng tích lũy và phát triển. Tập đoàn đang tranh thủ đẩy mạnh đầu tư, thực hiện chế biến sâu để nâng cao giá trị gia tăng và năng lực sản xuất.
Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Ðinh La Thăng nhấn mạnh hơn lúc nào hết các doanh nghiệp cần đặt lợi ích nước nhà lên trên lợi ích của mình, không vì lợi ích cục bộ mà ảnh hưởng đến lợi ích chung. Mỗi tập đoàn, tổng công ty cần chủ động, mau lẹ, cùng nhịp đập, suy nghĩ với Chính phủ để đưa các giải pháp chống lạm phát vào thực tiễn mà cụ thể là kiềm chế giá cả, đẩy mạnh sản xuất.
Tập đoàn Dầu khí đã và đang tích cực triển khai nhiều biện pháp, bảo đảm và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí; rà soát lại các dự án đã và đang đầu tư, tìm mọi biện pháp đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án trọng điểm Nhà nước như Khu liên hợp lọc hóa dầu Nghi Sơn, Nhà máy lọc dầu Dung Quất; các nhà máy điện Cà Mau, Nhơn Trạch 1-2, và nhiều dự án đầu tư ra nước ngoài...
Liên quan đến lĩnh vực đầu tư, Cục trưởng Cục quản lý nhà (Bộ Xây dựng) Nguyễn Mạnh Hà cho biết: Lợi nhuận cao trên thị trường bất động sản trong thời gian qua đã thu hút nhiều công ty, tập đoàn lớn trong nước thành lập các công ty kinh doanh bất động sản. Nhiều nhà đầu tư nước ngoài cũng quan tâm đến thị trường bất động sản. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký đầu tư vào bất động sản năm 2007 là 8,5 tỷ USD, chiếm hơn 42% tổng số vốn đăng ký. Ba tháng đầu năm nay, FDI đăng ký đầu tư gần 5tỷ USD. Nhiều ngân hàng có quỹ hoặc công ty kinh doanh bất động sản, xuất hiện đầu tư nội bộ khó kiểm soát. Việc cho vay dễ dãi, lại tập trung phân khúc thị trường hẹp là nhà ở cao cấp, văn phòng, khách sạn đã làm tăng đầu cơ, tạo cầu ảo làm mất ổn định thị trường.
GS, TS Nguyễn Văn Thường, Hiệu trưởng Trường đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng, trong những năm tới, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường vẫn được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng và phát triển toàn diện và bền vững đất nước. Cần tiếp tục làm rõ và khẳng định, thể chế hóa những nội hàm cơ bản của nền kinh tế Việt Nam như công cụ thực hiện kinh tế thị trường, các vấn đề liên quan đến sở hữu...; hoàn thiện khung pháp luật cho nền kinh tế thị trường, bảo vệ quyền tự do kinh doanh, tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, phù hợp cam kết quốc tế, xác định nguyên tắc và làm rõ giới hạn của sự can thiệp của Nhà nước.
Theo tiến sĩ Lý Minh Khải, tăng cường quản lý thị trường, kiểm soát pháp luật Nhà nước về giá vẫn là biện pháp không thể thiếu. Bởi vì trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay vẫn còn không ít các cơ sở sản xuất, kinh doanh ý thức tự giác chấp hành các chủ trương chính sách và luật pháp của Nhà nước chưa nghiêm, luôn tìm mọi cách để lợi dụng các kẽ hở của chủ trương chính sách để luồn lách lợi dụng. Hiện tượng lợi dụng việc điều chỉnh tăng giá xăng dầu của Nhà nước để "té nước theo mưa", nâng giá các loại vật liệu xây dựng, sắt thép, xi-măng, cước vận tải...trong thời gian qua đã làm ảnh hưởng lớn đến tình hình đầu tư. Vì vậy, các cơ quan quản lý chức năng có liên quan cần vào cuộc để kiểm tra và có biện pháp xử lý kịp thời. Nếu thực hiện tốt giải pháp này chắc chắn sẽ có đóng góp không nhỏ cho kìm hãm tốc độ tăng CPI trong những tháng tới.
Nhóm các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu và giảm nhập siêu
Nguyên Bộ trưởng Tài chính Hồ Tế phân tích đặc điểm lạm phát hiện nay so với trước đây và cho rằng, Nhà nước phát huy vai trò quản lý, điều hành, can thiệp kiềm chế lạm phát là cần thiết, thực hiện các nhóm giải pháp của Chính phủ, lạm phát đã bắt đầu được "cắt cơn", trên đà này, từng bước tiến đến thi hành lãi suất dương (lãi suất huy động cao hơn chỉ số tăng giá). Ðồng chí nhấn mạnh, trong lúc này, chúng ta phải phát huy lợi thế là nước nông nghiệp, phải đẩy mạnh sản xuất, tăng nhanh khối lượng nông sản hàng hóa cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu, góp phần giảm áp lực tăng giá và nhập siêu.
Thứ trưởng Công thương Bùi Xuân Khu cho biết, Bộ Công Thương đang tập trung chỉ đạo các đơn vị quản lý nhà nước và doanh nghiệp trong ngành thực hiện các nhiệm vụ đẩy mạnh xuất khẩu như tăng cường xúc tiến thương mại, chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có giá trị tăng cao, tăng chế biến, chế tạo những sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao...
Nguyên Thứ trưởng Thương mại Lương Văn Tự cho rằng, phải kiểm soát chặt nhập khẩu. Những mặt hàng trong nước có thể đẩy mạnh sản xuất trước mắt và lâu dài, vừa có nhu cầu lại vừa có nguyên liệu và khả năng phát triển phải ưu tiên vốn và chính sách hỗ trợ phát triển. Rà soát các thị trường nhập siêu lớn, yêu cầu đối tác mở cửa thị trường cho các mặt hàng ta có lợi thế theo nguyên tắc cân bằng thương mại. Tuyên truyền người Việt Nam dùng hàng Việt Nam, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất hàng chất lượng cao bán cho người Việt Nam để giữ vững thị trường. Bên cạnh đó, để đẩy mạnh xuất khẩu, cần hỗ trợ mạnh cho xúc tiến thương mại đầu tư và du lịch.
Tiến sĩ Nguyễn Ðức Kiên, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho biết, trong báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội tháng 11-2007, dự báo kế hoạch tổng mức đầu tư xã hội vào phát triển kinh tế là 46% nhưng thực tế đến hết tháng 12 chúng ta đạt khoảng 44% GDP. Như vậy, tổng mức đầu tư của toàn xã hội nếu so với năm 2006 thì năm 2007 tăng từ 38% đến 44% nhưng GDP tăng có 1%. Vấn đề ở đây là hiệu quả đầu tư của nền kinh tế là thấp. Chúng ta bỏ ra rất nhiều tiền nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế không tương xứng. Như vậy, đây là một cơ hội để chúng ta cân nhắc lại chính sách, từ bỏ việc phát triển bằng mọi giá.
Thứ trưởng Tài chính Trần Xuân Hà cho rằng, công tác dự báo của chúng ta còn kém, nhưng chúng ta cũng chưa quan tâm nhiều. Sự phối hợp giữa các công cụ chính sách, mỗi ngành cảm nhận và thực thi theo cách riêng của mình, do đó, khâu kết nối giữa các chính sách không hiệu quả. Vốn đầu tư thì cao, hệ số ICOR cũng cao, cơ cấu vốn đầu tư cũng có vấn đề, trong đó có cả vấn đề về cơ cấu giữa khu vực công và khu vực tư. Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên quá bi quan về tình hình kinh tế của đất nước. Các nước vẫn đánh giá Việt Nam về cơ bản vẫn là yếu tố thuận lợi cho phát triển, nhưng về lâu dài, cần phải xem xét lại một số điểm để có chính sách và giải pháp rõ hơn, đồng bộ hơn. Giải pháp cắt cơn lạm phát là hợp lý, song cũng phải tập trung nghiên cứu các giải pháp trung hạn và dài hạn.
Phát biểu ý kiến kết thúc cuộc Tọa đàm, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân Ðinh Thế Huynh nhấn mạnh, nước ta có tiềm năng và lợi thế phát triển lớn, nhưng đồng thời cũng đang phải đối mặt với các tình huống còn phức tạp hơn nhiều so với hiện nay nếu chúng ta không có được những giải pháp thoát ra khỏi tình trạng lạm phát. Những ý kiến đóng góp có giá trị trong cuộc tọa đàm hôm nay góp phần cùng với nỗ lực và quyết tâm cao của toàn Ðảng, toàn dân thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, tạo đà tăng trưởng bền vững hơn cho nền kinh tế đất nước những năm tiếp theo.
Thay mặt Hội Nhà báo Việt Nam, đồng chí kiến nghị với các cơ quan chức năng, mà trước hết là các bộ: Tài chính, Công thương, Kế hoạch và Ðầu tư, Ngân hàng Nhà nước và Ủy ban Chứng khoán phối hợp với Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức một lớp tập huấn trang bị cho các nhà báo những kiến thức về tài chính, tiền tệ liên quan chống lạm phát, để những người làm báo Việt Nam phát huy trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân tham gia tốt hơn vào cuộc đấu tranh chống lạm phát, đưa nền kinh tế nước nhà phát triển ổn định và bền vững.