Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát nằm trên sườn đông dãy Trường Sơn, thuộc địa bàn ba huyện Anh Sơn, Con Cuông và Tương Dương của Nghệ An, được mệnh danh là "lò luyện kiểm lâm", từng làm chùn bước ngay cả lâm tặc. Ðã có lần chúng chặt hạ những cây gỗ lớn, xẻ thành từng súc nục nạc, kéo xuống đến lòng suối rồi mà đành bỏ mục. Kiểm lâm đi tuần, gặp những súc gỗ vuông vức quánh đặc như miếng giò lụa, tiếc quặn ruột, nhưng cũng bó tay, không cách nào kéo về cho được. Một phần nhờ vậy mà Pù Mát vẫn còn 91.113 ha rừng nguyên sinh, trong đó tới 70% là rừng giàu.
Ðoàn chúng tôi vào rừng, ngược con suối có tên Khe Thơi. Trong rừng rậm, suối là đường giao thông tự nhiên quan trọng. Lâm tặc chuyển gỗ lậu cũng phải theo lòng suối, khe. Các trạm kiểm lâm chốt chặn bên các bờ suối, khe là chắc ăn. Vào rừng cứ ngược suối mà đi, ngoặt ngoẹo quanh co thế nào cũng mặc, khi dòng suối gào réo sục sôi chỉ còn là con lạch róc rách, ấy là đã đến "ruột" đại ngàn. Ðiểm tập kết trước khi lên đường là Trạm kiểm lâm Khe Thơi giữa vùng đệm khu bảo tồn, cách đường ô-tô độ ba giờ đi bộ và cách rừng già cũng khoảng chừng đó. Nằm trên địa bàn bản Tùng Hương (xã Tam Quang, huyện Tương Dương), Trạm Khe Thơi có sáu cán bộ, tuổi từ 27 đến 36. Trung bình mỗi người quản lý 1.500 ha rừng, rộng gấp hai lần mức bình thường. Theo quy định, mỗi tháng trạm phải thực hiện bốn chuyến đi tuần, mỗi chuyến từ bốn đến sáu ngày qua ngót trăm cây số đường rừng. Dù chỉ là ở vùng đệm, bữa cơm tối hôm ấy đã phảng phất hương vị rừng già. Trạm trưởng Hoàng Minh Ngọc đãi khách một con cá lăng bằng bắp chân, mua được của đám trẻ trong bản bắn dưới suối. Khẩu súng bắn cá tự chế đơn giản mà hiệu quả. Một ống sắt để lắp tên được gá chặt vào báng gỗ. Một quai dép tông tác dụng như dây nỏ để kéo căng, bật mũi tên đi. Ðầu tiên đám trẻ khua đập, làm ồn trên cả một khúc suối, xua cá tụ về một vực sâu lẩn vào các hốc đá. Sau đó chúng lặn xuống, quây chung quanh hốc đá, lẩy tên hạ từng con. Nhìn dưới nước, con cá to gấp ba, bắn càng dễ trúng. Ðám trẻ nhao nhao kể:
- Cứ là phát một, phát một thôi mà!
Như thế được hiểu là cứ mỗi mũi tên được một con cá. Ngoài đường ô-tô, một cân cá lăng bỏ rẻ cũng 60-70 nghìn đồng. Còn giữa vùng đệm, cái giá thuận mua vừa bán là 15 nghìn đồng/kg, chỉ bằng một phần mười ở Hà Nội. Thấy tôi xuýt xoa, trầm trồ, nhân viên kiểm lâm Trần Ngọc Anh bảo:
- Hôm nay có khách mới thế, chứ ở đây cá nhiều như khoai, mất tiền mua mần chi!
Sớm hôm sau, tôi mới thấm thía rằng hương vị rừng già không chỉ ngọt ngào như món canh cá lăng khi bắt gặp một lốt da rắn thõng thượt chừng thước rưỡi dưới gầm giường. Phát hiện ấy rơi tõm vào sự dửng dưng của cả trạm:
- Ờ, chẳng hiểu sao rắn ở đây cứ hay chui vào gầm giường để lột xác. Mãi rồi thành quen, không để ý nữa.
Chuẩn bị vào rừng, chúng tôi được trang bị xà cạp và dép rọ. Xà cạp để chống vắt, còn chỉ có dép rọ nhựa cứng mới trụ được trên các mỏm đá trọc đầu nhờn rêu suối. Hiệu quả đến mức cả kiểm lâm lẫn lâm tặc đều đồng phục trang bị này. Ðưa tôi đi là Trạm trưởng Hoàng Minh Ngọc và nhân viên kiểm lâm Trần Ngọc Anh. Cả hai đều đã có cả chục năm lăn lội khắp rừng Pù Mát. Vì là vùng biên giới, Trạm Kiểm soát Biên phòng Tùng Hương thuộc Ðồn 551 tăng cường cho đoàn một thượng úy với khẩu AK đầy ắp đạn: Trạm phó Chính trị Trần Hữu Phi. Thông thường vào rừng với kiểm lâm hoặc biên phòng đã là yên tâm, nhưng ở Pù Mát, thế là chưa đủ. Người đưa đường của đoàn là anh Lê Văn Ðức, năm nay 42 tuổi, ở bản Tùng Hương. Thời trẻ, anh đi rừng, làm thợ săn, tìm cội trầm hương, việc gì cũng làm, nghề nào cũng đến đỉnh, vậy mà vẫn nghèo. Kể từ khi thành lập khu bảo tồn năm 1997 đến nay, anh chuyên dẫn đường cho các đoàn nghiên cứu, khảo sát rừng Pù Mát. Ðoàn nào đến cũng gọi anh, bởi anh là người đi rừng giỏi nhất. Hành lý chia cho từng người mang, nặng nhất là của anh Ðức, gần 30 kg, nhẹ nhất là của tôi, chỉ độc chiếc túi máy ảnh. Sau vài cú trượt ngã đầu tiên, Trạm trưởng Hoàng Minh Ngọc giành nốt chiếc túi máy ảnh, buộc lên nắp ba-lô cho an toàn. Dù chỉ đi tay không, chật vật lắm, tôi mới theo kịp đoàn.
Về lý thuyết, vào rừng bằng cách ngược suối nghe thật đơn giản. Thực tế, đó là cả một nghệ thuật, đoạn thì cần men bờ trái, đoạn thì cần men bờ phải, chỗ lại cần leo lên vách núi để tránh thác. Nhiều lúc gặp vách đá dựng, dưới là nước sâu, chung quanh là bụi rậm mịt mùng, tưởng đã tận đường. Ðấy là lúc anh Ðức ra tay: đưa mắt chậm chậm nhìn quanh một lượt rồi xộc tuốt vào bụi, lội ào xuống sâu hoặc leo thốc lên vách đá. Bao giờ cũng thế, chỉ qua một đoạn khó là gặp lại lối mòn dễ đi.
Hết Khe Thơi, chúng tôi gặp Khe Mặt. Ðây là dòng suối nổi tiếng lắm cá của rừng Pù Mát. Ngay lập tức, trước mắt chúng tôi là từng đàn cá mát, thứ cá đặc sản của miền tây xứ Nghệ, kết bè kiếm ăn trắng cả lòng suối. Giống cá lưng xanh, bụng bạc, sườn sọc đỏ này luôn bơi ngược dòng nước xiết nên dài mình, thịt chắc, thơm. Thức ăn của cá mát chủ yếu là rêu đá. Chỉ khi cá ăn mới dễ nhìn ra chúng. Ngậm chặt túm rêu đá, cá mát vặn mình nhiều lượt để dứt đứt. Chính khi đó, bụng cá ánh lên lấp loáng dưới lòng suối. Cá mát đánh được giữa rừng cứ để nguyên con mà nấu nướng, khỏi cần mổ. Miếng lòng cá ngâm ngẩm đắng, rồi ngầy ngậy, đậm ngọt nơi cổ họng, đủ để quên mọi thứ cao lương mỹ vị trên đời.
Thấy cả đoàn cứ mải miết đi, tôi sốt ruột nhắc:
- Dừng lại, làm mẻ lưới cải thiện!
Cả đoàn cười ồ:
- Ðến chỗ nào nghỉ lại, đánh cá chỗ đó. Giờ đánh làm gì cho nặng.
Chim trời cá nước mà cứ như đã ở trong túi!
Lại nghe kể bên Khe Bu, ếch nhiều vô thiên lủng, hàng bao tải cũng có. Ếch núi đùi to, chắc, thịt thơm đến nao lòng, nhưng chỉ bắt đủ ăn vì không có sức mà mang. Ði rừng, thêm bớt một cân hành lý là cả vấn đề. Thường chỉ mang mấy thứ thật cần, còn thì nhờ rừng. Nước uống chẳng hạn, khát thì cứ suối mà vục. Có một kinh nghiệm rất lạ: nếu đang đi bộ, mồ hôi đổ liên tục thì nước suối uống vô tư nhưng nếu ngồi nghỉ đã ráo mồ hôi mà còn uống là đau bụng liền. Chiều xuống, thấy cả đoàn vẫn đi sùng sục, tôi gợi ý:
- Kiếm chỗ nghỉ tối đã.
Một đồng chí kiểm lâm trả lời:
- Chưa được, đoạn này chưa nghỉ được!
Cố thêm một chặng, không nhắc nổi chân nữa, đầu óc mụ mị, môi run run, tôi gạ:
- Nghỉ thôi, có vội gì đâu, chỗ nào chẳng được.
Hóa ra không được thật. Rừng núi mênh mông là thế nhưng kiếm một chỗ nghỉ không dễ. Ðường chúng tôi đi men theo sườn núi dốc, không có chỗ nào đủ bằng phẳng độ hai chiếc chiếu để cắm lán cả. Nếu cứ ở sát bên bờ suối thì chỉ cần một cơn lũ rừng bất ngờ là "xong". Thấy tôi "bết" quá, Ngọc lấy mấy chiếc kẹo hương cốm bóc, gí vào tận tay:
- Anh làm ít tăng lực!
Nể quá mà phải nhai trệu trạo chứ mệt muốn chết, bụng dạ nào mà kẹo bánh. Tưởng nói chơi, thì ra đỡ mệt thật. Có tí đường sữa vào, đầu óc tỉnh hẳn, chân tay bớt lỏng lẻo. Thất thểu mãi, cuối cùng cũng đến chỗ nghỉ bên bờ Khe Hoi. Tôi ngồi bệt, đờ đẫn nhìn mọi người dựng lán, bắc bếp nấu cơm, mặc cho những con vắt quơ tanh tách ngay bên cạnh. Nhoáng cái đã thấy anh Ðức từ suối về, xách theo mớ cá. Nửa nấu canh với lá chua, nửa nướng trên than hồng, thế là thành bữa cơm rừng. Làm kiểm lâm không phải chỉ có đi tuần mà giữ được rừng. Phải dựa vào dân mới giữ được. Trong vùng có mấy anh giỏi chặt, giỏi cưa xẻ, giỏi săn thú phải nắm hết. Anh nào vào rừng, đi hướng nào phải có người báo cho mình biết để ngăn chặn. Chuẩn bị ngủ, thấy mọi người thay quần áo đi đường, lấy bộ dự trữ ra mặc, tôi giật mình. Vì thiếu kinh nghiệm, ngại nặng, nên chỉ có nhất bộ. Chiếc áo thì đầm mồ hôi, quần thì sũng nước suối, chẳng biết làm sao! Anh Ðức lột chiếc quần mới thay đưa tôi:
- Mặc ngủ không ốm, anh quen rồi.
Thế rồi anh Ðức áo dài tay, quần cộc leo lên võng nằm. Còn tôi đắp chăn nằm duỗi dài giữa hai người bạn kiểm lâm. Sáng sớm tỉnh dậy, thấy anh Ðức ngồi sưởi bên bếp lửa, Ngọc Anh hỏi:
- Sao dậy sớm thế?
- Lạnh... ngủ không được.
Cả ngày hôm sau, anh Ðức dẫn chúng tôi leo lên các vách núi chung quanh. Sườn núi dốc đến mức muốn nghỉ cũng không ngồi được, cứ phải đứng tựa vào một gốc cây mà thở. Từ sườn núi này qua sườn núi khác thì đi theo dấu chân voi là chuẩn nhất. Giống vật tinh khôn, nặng nề này bao giờ cũng đi theo con đường tương đối bằng phẳng, không đoạn nào quá dốc. Ở vùng này đã xuất hiện những kẻ săn trộm chuyên nghiệp bằng bẫy treo. Lối bẫy này trước chỉ có ở vùng Quảng Bình, Thừa Thiên - Huế. Dây bẫy bằng ruột phanh xe đạp. Những kẻ săn trộm vít cả một ngọn cây bằng bắp đùi cong xuống thay cho cần bật. Thú nặng hàng tạ mà mắc vào cũng bị treo phắt lên. Mới rồi, anh Ðức dẫn nhóm kiểm lâm đi dỡ cả một vạt bẫy hơn 200 chiếc. Gùi về xong, ai cũng khiếp.
Chiều xuống, chúng tôi trở về lán. Tối nay anh Ðức chiêu đãi món mới. Khe Hoi mà chúng tôi đóng lán có rất nhiều ốc. Trong tiếng Thái, hoi có nghĩa là ốc. Trước khi đi, anh Ðức chặt mấy cành lá đoóng thả xuống suối. Ðó là loại cây giống như cây dương xỉ to, ốc rất thích ăn. Trở về, anh Ðức chỉ cần nhấc mấy cành lá đoóng bu đầy ốc, giũ thẳng vào nồi là xong. Sau bữa cơm tối, anh Ðức lại lấy chiếc quần khô đưa tôi, bình thản như đêm qua chưa hề mất ngủ vì lạnh:
- Mặc vào, không là ốm đấy!
Có lẽ vì tôi mà đoàn tuần tra rút ngắn một nửa thời gian, chỉ còn hai đêm ba ngày. Cứ mỗi ngày đi rừng, anh Ðức được thanh toán 50 nghìn đồng tiền công. Vuốt ve mấy tờ bạc rồi cất kỹ vào túi, anh Ðức ngượng nghịu nói như thanh minh:
- Từ ngày ra khỏi rừng khó khăn nhiều đấy. Anh chị cũng làm nương, trồng cây theo dự án nhưng chỉ để ăn thôi, không có tiền. Ba cháu đi học ngoài kia mất 200 nghìn đồng mỗi đứa mỗi tháng đấy. Tiền làm ra này chỉ để dành gửi các cháu thôi, không dám tiêu đâu.
Chẳng riêng gì gia đình anh Ðức, từ khi tách ra khỏi rừng Pù Mát cuộc sống của bản Tùng Hương 132 hộ đều khó khăn thế cả. Năm vừa rồi mất mùa, hầu hết các hộ gia đình trong bản bị đói. Trạm trưởng Hoàng Minh Ngọc mới về quyên góp khắp cả cơ quan quản lý vườn quốc gia được 1,4 triệu đồng, mua gạo cứu đói cho dân. Có những khi kiểm lâm đứng ra bắt gỗ của lâm tặc, nhưng lại phải góp tiền giúp họ mua thuốc chữa bệnh cho con. Bí thư Chi bộ bản Tùng Hương Lê Minh Trường nói:
- Trước đây dân bản đi rừng cái mắt quen nhìn dưới chân, cái đầu không quen nghĩ xa. Nay đi theo cái đường của Ðảng, theo cái chính sách Nhà nước, dân bản hiểu lắm rồi. Tiến bộ nhiều chưa có, nhưng đã biết làm nương theo quy hoạch, trồng cây theo dự án, dần dần mới bớt nghèo.
Trong khi chờ cuộc sống mới bắt rễ đâm chồi, người dân bản Tùng Hương vẫn âm thầm trả giá từng ngày. Với 42 loài thú lớn, 70 loài thú nhỏ, 295 loài chim, 74 loài cá, 2.600 loài thực vật... Rừng quốc gia Pù Mát là một trong những khu bảo tồn đa dạng, phong phú nhất nước ta. Tới đây, tỉnh Nghệ An sẽ hình thành tuyến du lịch sinh thái giữa đại ngàn Pù Mát. Ðó là một cơ hội để mọi người biết đến một góc Trường Sơn hùng vĩ hoang sơ.