Ảnh thiết kế có sử dụng AI.
Ảnh thiết kế có sử dụng AI.

Giữ hồn Việt trong Tết Trung thu thời hiện đại

Trung thu đang cận kề, Hà Nội những ngày này đã rộn ràng sắc màu mùa trăng tháng Tám. Trên phố Lương Văn Can, Hàng Mã..., dòng người tấp nập mua sắm, chụp ảnh giữa những gian hàng ngập tràn đồ chơi và bánh Trung thu. Trong sự đủ đầy, phong phú của đời sống hiện đại, đôi khi người ta vẫn chạnh lòng nhớ về những chiếc đèn tre tự phết hồ méo mó, những món đồ chơi dân gian và vị bánh nướng mộc mạc ngày xưa – những điều giản dị từng góp phần làm nên hồn cốt Tết Trung thu và hơi ấm của đêm đoàn viên.

Những biến thiên thực dụng và sự đứt gãy không gian văn hóa

Mâm cỗ trông trăng truyền thống của người Việt xưa nay chưa từng vắng bóng chiếc bánh nướng, bánh dẻo. Ngày trước, chiếc bánh là tinh hoa chắt chiu từ mùa màng, là thức quà thơm thảo kính dâng lên tổ tiên và chia đều cho con cháu. Khoảnh khắc cắt chiếc bánh chia đều cho các thành viên trong gia đình mang ý nghĩa biểu trưng sâu xa về sự công bằng, gắn kết và sung túc.

Thế nhưng, sự thương mại hóa đang đẩy giá trị chiếc bánh đi quá xa so với ý nghĩa ban đầu. Đạo lý “trọng tình hơn trọng vật” dường như bị lấn át khi trên thị trường hiện nay xuất hiện nhan nhản những hộp bánh có giá hàng triệu, thậm chí hàng chục triệu đồng... Giá trị thực của chiếc bánh thì ít, nhưng sự phô trương của vỏ hộp bọc nhung, khảm trai, dát vàng hay các món đồ đính kèm lại chiếm phần lớn. Chiếc bánh từ biểu tượng của tình thân nay bị biến thành “công cụ ngoại giao”, thước đo đẳng cấp phục vụ những mối quan hệ làm ăn. Cùng với đó là hệ lụy khổng lồ về môi trường khi hàng triệu vỏ hộp cầu kỳ khó tái chế bị thải bỏ sau mỗi dịp lễ.

anh-anh-ho.png
Nghệ nhân Đặng Đình Hổ ở thôn Xuân La, xã Phượng Dực, Hà Nội. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)

Bên cạnh sự biến tướng về vật chất, không gian tinh thần của ngày Tết Trung thu cũng đang bị thu hẹp. Tại các đô thị lớn, những con phố lồng đèn truyền thống những ngày này thường xuyên nghẽn lối. Nghịch lý ở chỗ, nhân vật chính của ngày hội là trẻ em lại lọt thỏm, mệt nhoài giữa biển người lớn chen chúc đến để chụp ảnh “sống ảo”. Không gian trải nghiệm văn hóa vô hình trung biến thành phông nền trang trí. Cùng lúc đó, sự xâm lấn ồ ạt của đồ chơi công nghiệp, đồ chơi ngoại nhập phát sáng, phát nhạc chát chúa, thậm chí mang tính bạo lực đang bóp nghẹt chỗ đứng của đồ chơi dân gian. Chiếc đèn ông sao, đèn kéo quân hay chú tò he mộc mạc mang theo triết lý giáo dục sâu sắc về đạo làm người đang dần vắng bóng.

Ngay trong chính các gia đình, nhịp sống công nghiệp và công nghệ cũng tạo ra những "bức tường vô hình". Thay vì quây quần phá cỗ, ngắm trăng, nhiều gia đình tuy ngồi cạnh nhau nhưng mỗi người lại dán mắt vào một chiếc điện thoại thông minh. Trẻ em mất đi cơ hội cùng ông bà, cha mẹ vót tre, dán giấy làm đèn. Sự đứt gãy trong việc trao truyền văn hóa và giao lưu tình cảm - giá trị cốt lõi nhất của Tết Đoàn viên phải chăng đang hiện hữu rõ nét.

Khoảng trống bảo tồn và bài học từ những người "giữ lửa"

Giữa những đổi thay của thời cuộc, việc gìn giữ hồn cốt văn hóa truyền thống được vun đắp từ chính những con người bình dị đang bám trụ với nghề cổ truyền. Câu chuyện ở làng Xuân La (xã Phượng Dực, Hà Nội) - Làng nghề nặn tò he truyền thống là một minh chứng sống động cho những trăn trở trong công tác bảo tồn.

2aoboqzfitxmj6naamnbnlebr2mpoibtf2bhyw6y-697.jpg
Các nghệ nhân làng nghề tò he thôn Xuân La. (Ảnh: Nghệ nhân Đặng Đình Hổ cung cấp)

Câu chuyện của Nghệ nhân Đặng Đình Hổ ở thôn Xuân La là người đã gắn bó với bột màu và que tre từ năm lên 10 tuổi cũng giống như rất nhiều nghệ nhân vẫn còn tha thiết với nghề, với văn hóa truyền thống. Đối với anh, nghề nặn tò he không chỉ là sinh kế mà đã trở thành máu thịt. Tuy nhiên, nghề thủ công này phụ thuộc nhiều vào thời tiết và nhu cầu mùa vụ tại các lễ hội nên thu nhập không ổn định. Bên cạnh nghề chính, anh vẫn phải làm thêm nhiều công việc khác để lo toan cuộc sống. có lẽ cũng vì thế mà hiện nay, cả làng Xuân La chỉ còn khoảng một nửa số hộ kiên trì theo nghề.

Đây là một nghịch lý quen thuộc: một nghề mang giá trị văn hóa to lớn nhưng chưa chắc mang lại thu nhập tương xứng cho người thực hành. Nếu chỉ đặt nặng bài toán kinh tế, các nghề thủ công truyền thống sẽ khó lòng cạnh tranh. Thế nhưng, những nghệ nhân như anh Hổ vẫn chọn gắn bó vì tình yêu nghề sâu sắc.

Mỗi con tò he xuất hiện trong đêm rằm không chỉ là món đồ chơi nhỏ bé; đằng sau đó là đôi bàn tay khéo léo và một tầng ký ức văn hóa được chắt chiu trao truyền. Khi một nghệ nhân trực tiếp nặn tò he trước mắt trẻ thơ, các em không chỉ thấy được hình hài sản phẩm mà còn cảm nhận được sự tỉ mỉ của người làm nghề. Chính từ trải nghiệm trực quan ấy, mà văn hóa thực sự sống động, hòa nhịp vào đời sống đương đại. Điều này chỉ ra một thực tế: văn hóa phải được trao truyền qua việc cùng làm, cùng chơi và cùng trải nghiệm trong một không gian thực tế, thay vì chỉ là những chương trình được "đóng gói sẵn" tại các trung tâm thương mại.

Đánh thức "hồn cốt Việt" – Trách nhiệm của toàn xã hội

anh-sua-ct.png

Giữ gìn bản sắc trong Tết Trung thu hiện đại không đồng nghĩa với thái độ cực đoan, bài trừ sự phát triển của xã hội hay khước từ thương mại hóa. Đó là quá trình gạn đục khơi trong, chắt lọc tinh hoa để định vị lại những giá trị cốt lõi.

Nhìn nhận về vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn - Ủy viên chuyên trách, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội khẳng định: Điều quan trọng nhất để giữ được “hồn Việt” trong mỗi dịp Tết Trung thu là phải đưa Trung thu trở về đúng với những giá trị văn hóa cốt lõi của nó: sự sum họp gia đình, niềm vui trẻ thơ và sự trao truyền ký ức giữa các thế hệ.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn cũng cho rằng, thương mại là một phần tất yếu của đời sống hiện đại, nhưng nếu Trung thu chỉ còn được đo bằng những hộp bánh đắt tiền, những món quà phô trương hay đồ chơi công nghiệp thì chúng ta sẽ dần đánh mất chiều sâu văn hóa của ngày Tết này. Một chiếc bánh trung thu chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó gắn với câu chuyện đoàn viên; một chiếc đèn ông sao, mặt nạ giấy bồi hay tò he trở nên quý giá khi trẻ em hiểu được bàn tay, ký ức và văn hóa của người Việt gửi trong đó. Vì vậy, gia đình, nhà trường, cộng đồng và các thiết chế văn hóa cần cùng nhau tạo nhiều không gian để trẻ em được làm đèn, nặn tò he, xem múa lân, nghe kể chuyện về Trung thu truyền thống, cùng ông bà, cha mẹ phá cỗ và chia sẻ những câu chuyện gia đình.

Đồng thời, cần hỗ trợ nghệ nhân, làng nghề và khuyến khích những sản phẩm Trung thu sáng tạo nhưng vẫn dựa trên chất liệu văn hóa Việt. Giữ hồn Việt không có nghĩa là giữ Trung thu nguyên trạng như quá khứ, mà là làm cho những giá trị đẹp đẽ của quá khứ tiếp tục sống động, hấp dẫn và có ý nghĩa đối với trẻ em hôm nay.

Nếu Trung thu chỉ còn được đo bằng những hộp bánh đắt tiền, những món quà phô trương hay đồ chơi công nghiệp thì chúng ta sẽ dần đánh mất chiều sâu văn hóa của ngày Tết này. Một chiếc bánh trung thu chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó gắn với câu chuyện đoàn viên; một chiếc đèn ông sao, mặt nạ giấy bồi hay tò he trở nên quý giá khi trẻ em hiểu được bàn tay, ký ức và văn hóa của người Việt gửi trong đó.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn

Để hiện thực hóa điều đó, có lẽ đã đến lúc cần một sự chuyển biến từ nhận thức đến hành động của toàn xã hội. Các cơ quan quản lý văn hóa và chính quyền địa phương cần xây dựng các chính sách hỗ trợ thiết thực cho nghệ nhân làng nghề, quy hoạch những không gian văn hóa công cộng an toàn, đậm đà bản sắc. Mỗi người tiêu dùng cần tự thay đổi thói quen, bài trừ sự lãng phí, xa hoa mang tính hình thức, hướng tới những giá trị văn hóa đích thực.

Quan trọng nhất, các bậc phụ huynh hãy bước ra khỏi thế giới ảo, đặt điện thoại thông minh xuống để kiến tạo những kỷ niệm thực sự bên con cái. Một chiếc lồng đèn dán vội có thể còn vụng về, một mâm cỗ tự bày có thể chưa lộng lẫy, nhưng đó là di sản tinh thần vô giá. Giữ gìn hồn cốt của Tết Trung thu chính là giữ lại cội nguồn, tạo ra một điểm tựa tinh thần vững chắc để bản sắc văn hóa Việt Nam trường tồn và tỏa sáng trong dòng chảy hội nhập.

Có thể bạn quan tâm