Ði thăm một loạt các trường: Tiểu học Thanh Bình, Trung học phổ thông Hồng Quang, Cao đẳng sư phạm Hải Dương... cho dù mỗi trường, mỗi vẻ, thì ấn tượng và sự thiện cảm của tôi vẫn dành nhiều cho Trường tiểu học Thanh Bình. Chẳng phải chỉ vì đây là một trong số ít trường đạt chuẩn quốc gia (mức hai) của toàn quốc với con số 72,8% giáo viên trên chuẩn đào tạo (đại học, cao đẳng), cũng chẳng phải vì đây là ngôi trường tiểu học với phương châm dạy chữ - dạy người toàn diện, có các phòng học chức năng tin học, âm nhạc, mỹ thuật... để nuôi dưỡng các em thơ thực sự phát triển hài hòa cả trí tuệ, tâm hồn và nhân cách. Mà chính vì tôi trân trọng cái "cách" đi lên của ngôi trường tiểu học vùng ngoại thành thành phố này.
Không có bất cứ một sự ưu đãi nào, dân cư, vùng nơi trường đóng lại 100% sống bằng nghề nông, và đi tứ phương làm thuê kiếm ăn, đời sống vừa vất vả, vừa không ổn định. Trước đây trường là một trong những trường yếu kém nhất, nhì thành phố, nay trở thành một trong những trường tiểu học đi đầu thành phố. Ðạt được kết quả đó là mồ hôi lao động cật lực, là sự vắt óc của cả một đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý nhà trường vừa dựa vào nội lực chính mình, vừa biết cách tìm kiếm sự trợ lực của xã hội, từ cấp ủy, chính quyền địa phương đến các bậc phụ huynh.
Tôi trân trọng câu chuyện của hiệu trưởng Tạ Minh Thi, về sự vận động mỗi gia đình góp hai nghìn đồng để mua cho các em học sinh chiếc đàn oóc-gan đầu tiên, giá hai triệu đồng. Trân trọng sự xác định giải pháp xây dựng đội ngũ của nhà trường, từ nền nếp, kỷ cương, lời ăn tiếng nói mô phạm của từng giáo viên, đến kế hoạch chiến lược để có được một tỷ lệ giáo viên đạt trên chuẩn đào tạo khá cao. Trân trọng cách dạy chữ, nhưng không quên dạy người, thông qua các hoạt động ngoại khóa dạy nhạc, họa, thêu thùa, đến cách xây dựng nền nếp thi cử nghiêm túc trong sự triển khai cuộc vận động "Hai không" đang nóng bỏng dư âm xã hội hôm nay...
Nhưng Trường tiểu học Thanh Bình, chỉ là một tế bào non trẻ, tươi mới trong cơ thể giáo dục Hải Dương săn chắc sinh lực đang hướng tới sự phát triển của thời hội nhập và trên hành trình công cuộc đổi mới giáo dục phổ thông. Không phải tỉnh nghèo, nhưng Hải Dương chưa thể nói là giàu, với bình quân đầu người mới chín triệu đồng/năm. Số hộ nghèo toàn tỉnh vẫn còn khoảng 16%. Hai điều kiện kinh tế - văn hóa vừa là thuận lợi, vừa là thách thức với giáo dục đất này. Ðó là đặc điểm địa lý rất gần Hà Nội, vừa dễ dàng tiếp cận tinh hoa văn hóa Thủ đô, vừa dễ bị mất nguồn nhân lực, nhân tài trong khi Hải Dương là một trong những tỉnh thu hút mạnh các dự án đầu tư nước ngoài, với 142 dự án (tổng số vốn 1.650,5 triệu USD), trong đó 81 dự án đã đi vào hoạt động sản xuất, chưa kể 2047 doanh nghiệp trong nước (trong đó có 14 doanh nghiệp Nhà nước) cũng đang hoạt động. Nên vấn đề chất lượng nguồn nhân lực được đặt ra hối thúc hơn lúc nào hết.
Công bằng mà nói, Hải Dương là một tỉnh phát triển các ngành học cho tới chất lượng khá đồng đều, và đều tay. Giáo dục mầm non tăng rất nhanh. Tỷ lệ huy động trẻ đến trường rất cao, 40% số trẻ trong độ tuổi vào nhà trẻ, 90% trẻ mẫu giáo ba tuổi và 99% trẻ mẫu giáo năm tuổi được đến lớp), tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển giáo dục tiểu học. Giáo dục tiểu học luôn đứng ở "top ten" các tỉnh đồng bằng sông Hồng, cả về chất lượng, đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý, xây dựng trường chuẩn quốc gia, cả về việc tổ chức cho trẻ học hai buổi/ngày, với tỷ lệ 99,1%, trong đó 10% số em được học bán trú. Là tỉnh có số dân không đông, nhưng hằng năm giáo dục Hải Dương có số học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng khá cao so với cả nước. Năm 2006, điểm trung bình thi đại học của học sinh Hải Dương xếp thứ hai cả nước, chỉ sau Hà Nội. Số học sinh giỏi quốc gia, quốc tế cũng luôn ở trong tốp dẫn đầu. Chỉ tính riêng năm học 2006- 2007, 59/66 em dự thi đoạt giải quốc gia (chỉ thấp hơn so với Ðại học Quốc gia Hà Nội) trong đó có ba giải nhất, 19 giải nhì... đặc biệt có một em được dự Olympic quốc tế môn toán.
Những kết quả cao ấy, dĩ nhiên, được vun xới từ những điều kiện, giáo dục Hải Dương hết mực đầu tư, chăm sóc. Từ năm học 2005 - 2006, tỉnh không còn giáo viên phổ thông, giảng viên các trường chuyên nghiệp đứng lớp dưới chuẩn đào tạo (riêng ngành mầm non dưới chuẩn đào tạo chỉ còn khoảng hơn 20%). Hơn thế, Hải Dương đã xây dựng xong quy hoạch đào tạo bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục các cấp từ mầm non đến trung học cơ sở 2010 - 2015. Tuy không phải là "đối tượng" của chương trình kiên cố hóa trường lớp, bằng sức mình Hải Dương vẫn có chính sách hỗ trợ ngành giáo dục, cứ 25 triệu đồng/một phòng học xây mới kiên cố. Nay, toàn tỉnh, có 73,4% số phòng học cao tầng, kiên cố hóa.
Nhưng trên hành trình đổi mới, hướng tới sự hội nhập, thách thức luôn nảy nở trong sự phát triển của giáo dục Hải Dương. Có thể nhìn thấy ở ngành học mầm non. Trong số 282 trường mầm non, có tới 275 trường bán công, với quy định của Luật Giáo dục 2005 thì hàng trăm trường này phải chuyên đổi sang công lập, dân lập, tư thục. Nhưng tỉnh không có xã nào diện đặc biệt khó khăn để được chuyển sang công lập. Vậy 275 trường này chuyển sang trường ngoài công lập sẽ phải như thế nào, nhất là chính sách về đội ngũ, về đóng góp của các bậc cha mẹ, quả không phải chuyện nhỏ. Có thể nhìn thấy ở bậc tiểu học, ngành học sáng giá nhất, mặc dù phát triển tốt, nhưng tốc độ trường đạt chuẩn quốc gia lại là chậm nếu so với các địa phương tương đương. Có thể nhìn thấy ở ngay chính đội ngũ giáo viên THCS.
Mặc dù là tỉnh làm công tác xây dựng đội ngũ đồng bộ khá tốt, nhưng tận thời điểm này, định biên giáo viên THCS/lớp của Hải Dương mới chỉ đạt 1,3 (trong đó quy định chung của Bộ Giáo dục và Ðào tạo là 1,9 giáo viên). Với một tỷ lệ còn chật vật như vậy, chất lượng giáo dục cấp THCS làm sao bảo đảm tốt, tạo tiền đề cho chất lượng THPT.
Tại Trường THPT Hồng Quang, một trường học không phải trường chuyên, nhưng lại là trường chất lượng giáo dục cao, có "thương hiệu", có "uy tín", cơ sở vật chất quá nghèo, tâm tư giáo viên lo lắng. Từ chủ trương thi trắc nghiệm, tới chương trình, sách giáo khoa một số môn như tiếng Anh khá nặng, thời lượng học ít, cho tới tiền lương giáo viên thấp, đội ngũ thiếu... Ngổn ngang như vậy, chất lượng giáo dục làm sao được bảo đảm, được nâng cao nếu người thầy không thật sự "gồng" lên vì bổn phận, lương tâm trách nhiệm, và cả lòng tự trọng? Nhưng đặc biệt là hệ thống giáo dục chuyên nghiệp các trung tâm dạy nghề, hướng nghiệp, giáo dục thường xuyên đào tạo nguồn nhân lực. Với hơn trăm dự án nước ngoài, hàng nghìn doanh nghiệp trong nước đã và đang hoạt động, chắc chắn đây vừa là cơ hội vừa là thách thức với giáo dục Hải Dương về nguồn nhân lực có kỹ thuật. Mặc dù là tỉnh phát triển mạnh hệ thống giáo dục chuyên nghiệp với sáu trường trung ương, sáu trường địa phương, nhưng thực chất hệ thống này hiện nay rất cần được quy hoạch lại với mục tiêu đào tạo phải xác định rõ, vì hiện quá manh mún, chồng chéo.
Các trung tâm dạy nghề- hướng nghiệp, giáo dục thường xuyên cũng trong trạng thái tương tự, phát triển số lượng nhưng hoạt động và chất lượng đào tạo còn là vấn đề phải tháo gỡ, đầu tư và định hướng rõ ràng. Mục tiêu nâng cấp trường cao đẳng sư phạm lên trường đại học đa ngành, đa lĩnh vực, đòi hỏi vừa cần có sự tự thân vận động, nội lực nhà trường, đặc biệt trong xây dựng đội ngũ, đầu tư cơ sở vật chất thiết bị kỹ thuật, xác định mục tiêu đào tạo theo nhu cầu xã hội, vừa có sự trợ lực của Bộ Giáo dục và Ðào tạo. Ðó là ngành cần hoàn thiện một hệ thống mạng lưới giáo dục và đào tạo, vừa có tính liên thông hợp lý, có khả năng hỗ trợ nhau, gắn bó phục vụ mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước và từng địa phương.