Là nước sản xuất nông nghiệp, nhưng giá thức ăn chăn nuôi (TACN) công nghiệp ở nước ta luôn cao hơn 10-15% so với các nước trong khu vực, hằng năm phải nhập khẩu khoảng 20-30% về khối lượng, chiếm tới 45% tổng giá trị nguyên liệu sản xuất TACN công nghiệp; giá TACN lại liên tục tăng trong thời gian qua.
Giá thức ăn chăn nuôi liên tục tăng
Trong câu chuyện với chúng tôi, Chủ nhiệm HTX chăn nuôi Cường Thịnh (Bắc Ninh) Ngô Văn Chiến luôn miệng phàn nàn về giá thức ăn công nghiệp dạo này tăng nhanh quá, mỗi bao thức ăn hỗn hợp (25 kg) tăng trung bình từ 17 đến 20 nghìn đồng. Cùng với dịch cúm gia cầm tái phát, dịch lở mồm, long móng gia súc, nghề chăn nuôi gặp phải quá nhiều khó khăn. Trong chăn nuôi thức ăn đóng vai trò hết sức quan trọng, chiếm tới 65-70% cơ cấu giá thành sản phẩm, nên khi giá thức ăn tăng cao người chăn nuôi hầu như không có lãi, mà có thể còn bị lỗ. Ngay từ đầu năm, TACN công nghiệp liên tục tăng 5-6 đợt, đến nay vẫn chưa giảm, thậm chí còn có thể tăng trong thời gian tới. Tính bình quân, giá TACN năm nay tăng khoảng 10-15% so với cùng thời điểm.
Vậy nguyên do từ đâu?
Theo Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi Hoàng Kim Giao: "Ngành chế biến TACN nước ta còn phụ thuộc vào việc nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài, nên thế giới tăng thì mình cũng phải tăng". Ðồng chí Giao dẫn chứng, thực tế nguồn nguyên liệu sản xuất trong nước mới chỉ đáp ứng được 75-78% về khối lượng so với nhu cầu sản xuất, số còn lại phải nhập từ nước ngoài; ngay cả những nguyên liệu tưởng chừng có thể sản xuất đủ trong nước như ngô, mỗi năm cũng phải nhập khẩu 500 - 600 nghìn tấn, còn khô dầu đậu tương phải nhập khẩu gần như hoàn toàn. Cho đến nay nước ta vẫn chưa tự sản xuất được nguyên liệu để chế biến premix (vi-ta-min tổng hợp), chất phụ gia và một số loại chất bổ sung khác. Hầu hết các doanh nghiệp đều phải nhập khẩu các loại nguyên liệu đơn về phối trộn thành premix dùng bổ sung vào TACN. Hiện nay, một số nước trên thế giới đang sử dụng một lượng lớn ngũ cốc để chế ê-tha-nôn (xăng sinh học) làm lượng ngô cung cấp cho chăn nuôi giảm, giá ngô bị đẩy lên cao, cộng với giá nhiên liệu tăng cũng gây ảnh hưởng lớn đến chi phí vận chuyển.
Một nguyên nhân chủ quan cũng cần phải kể đến là chúng ta chưa có cảng nước sâu cho tàu lớn vào, chưa có dây chuyền nào mang tính chất phục vụ chuyên ngành TACN (chủ yếu vẫn là vận chuyển thủ công làm tăng chi phí đóng bao, đóng gói)...
Qua tìm hiểu tại một số công ty chế biến, chúng tôi nhận thấy có nhiều yếu tố khác trong "dây chuyền" sản xuất, làm tăng giá thành phẩm TACN. Như, ngoài việc tăng giá chung của các loại mặt hàng nông sản, còn những thủ tục kiểm dịch (kiểm định AND bột thịt, bột cá trước khi nhập khẩu) tại cầu cảng còn mất khá nhiều thời gian, làm tăng chi phí lưu kho, lưu bãi, mà chi phí bốc dỡ hàng tại các cảng cũng chưa thống nhất.
Anh Nguyễn Hồng Thái, phụ trách thu mua nguyên liệu của Công ty CP Group (Thái-lan) cho biết: "Khi thu mua nguyên liệu trực tiếp từ nông dân, nhà máy còn phải chịu thêm 5% tổng giá trị lượng hàng hóa, cho nên giá thành phẩm TACN sẽ phải tăng thêm 5% nữa, (nông dân thường không có hóa đơn, chứng từ mua bán, nên không được tính theo thuế giá trị gia tăng). Ðiều này không những gây khó khăn cho nhà sản xuất mà còn ảnh hưởng đến thu nhập của người nông dân, việc phát triển vùng nguyên liệu. Qua tìm hiểu, chúng tôi cho rằng nguyên nhân không kém phần quan trọng của việc tăng giá TACN là do một số nhà máy chưa chủ động được nguồn nguyên liệu cho sản xuất, dẫn đến tình trạng bị động, có lúc phải mua nguyên liệu với giá cao vào thời điểm khan hiếm hàng.
Giải pháp hạ giá thành
Tuy hình thành chưa lâu, nhưng ngành sản xuất TACN công nghiệp của Việt Nam có tốc độ phát triển khá nhanh, với công nghệ, thiết bị hiện đại và là lĩnh vực thu hút lớn các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài. Một số doanh nghiệp Việt Nam đã khẳng định được vị trí, thương hiệu trong ngành sản xuất TACN công nghiệp của mình. Song, một trong những vướng mắc của ngành vẫn là giá thành sản phẩm. Theo số liệu thống kê của Cục Chăn nuôi, hiện cả nước có 241 nhà máy chế biến TACN (13,7% của nước ngoài, 4,1% liên doanh và 82,2% trong nước). Tổng sản lượng thức ăn hỗn hợp quy đổi sử dụng cho chăn nuôi năm 2006 là 6,6 triệu tấn, mới đáp ứng khoảng 44,8% nhu cầu về thức ăn tinh (được dùng nhiều trong các trang trại chăn nuôi quy mô lớn), số còn lại do nhân dân tự phối trộn theo kiểu "tự biên tự diễn" chủ yếu dùng trong các hộ chăn nuôi quy mô nhỏ. Họ chỉ mua một phần thức ăn đậm đặc và mua thêm các nguyên liệu giàu năng lượng sản xuất trong nước như ngô, cám gạo, sắn... về pha trộn.
Trong nỗ lực giải bài toán về giảm giá thành sản xuất TACN, mỗi nhà máy chế biến đã cố gắng đi tìm lời giải cho riêng mình nhằm nâng cao sức cạnh tranh. Một số công ty đã khẳng định được thương hiệu sản phẩm như Cagill, CP Group, Proconco, Dabaco, Lái Thiêu, Thanh Bình... họ ngày càng chú trọng tới chất lượng, đôi lúc chấp nhận việc giá nguyên liệu tăng, chấp nhận giảm sản lượng bán ra nhưng bù lại họ tập trung phát triển mạng lưới chăn nuôi gia công, nhằm tiết kiệm chi phí trung gian về thức ăn, thuốc thú y, công lao động cho người chăn nuôi, góp phần hạ giá thành sản phẩm; đồng thời giảm chi phí sản xuất bằng cách giảm tỷ lệ sản phẩm bị hư hỏng, giảm chi phí văn phòng... Các công ty có quy mô sản xuất vừa và nhỏ, bên cạnh việc cố gắng đầu tư trang thiết bị, dây chuyền chế biến hiện đại để nâng cao chất lượng thức ăn, thậm chí còn phải áp dụng giải pháp tập trung ca sản xuất vào thời điểm giá tiền điện thấp nhất trong ngày. Về phía nhà quản lý, đồng chí Hoàng Kim Giao đưa ra một loạt giải pháp mang "tầm chiến lược" như đầu tư cơ sở hạ tầng (bến bãi, kho dự trữ nguyên liệu...), giảm thuế cho các loại nguyên liệu nhập khẩu, chú trọng phát triển sản xuất các loại nguyên liệu trong nước. Có giải pháp mở rộng diện tích, nâng cao năng suất các loại cây trồng thiết yếu như ngô, đậu tương. Có thể hướng tới việc ra đời chính sách khuyến khích cá nhân xây dựng cầu cảng, hệ thống vận chuyển, nhà kho mang tính chuyên dụng hay như mở sàn giao dịch về TACN qua mạng để cập nhật thông tin về giá nguyên liệu cũng như thành phẩm TACN công nghiệp của các hãng, các cơ sở sản xuất. Tuy nhiên, một giải pháp giản đơn nhưng cũng góp phần không nhỏ làm giảm giá TACN như rút ngắn thời gian kiểm tra, kiểm dịch nguyên liệu nhập khẩu nhằm giảm thời gian lưu hàng hóa tại cảng; bằng cách đưa ra danh sách các xuất xứ nguyên liệu trong diện phải quản lý để tránh việc phải kiểm tra những xuất xứ không cần thiết như hiện nay; có phương thức tính thuế phù hợp hơn với nguyên liệu thu mua trực tiếp của nông dân. Hơn nữa, Việt Nam là một trong những quốc gia xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới, với bờ biển dài hơn 3.000 km hoàn toàn đủ khả năng cung cấp nguyên liệu bột cá cho ngành sản xuất TACN. Vấn đề là ngành thủy sản cần chú trọng hơn trong việc quy hoạch thời gian đánh bắt cá hợp lý vừa bảo đảm nguồn lợi thủy sản, vừa có tác dụng giữ ổn định mức giá và chất lượng nguyên liệu bột cá.
Là một nước nông nghiệp nhiệt đới, nước ta có nhiều lợi thế để phát triển ngành công nghiệp chế biến TACN công nghiệp hiện đại, đáp ứng được nhu cầu phát triển của ngành chăn nuôi trong vận hội mới. Cùng với cải tiến chất lượng giống, đổi mới công nghệ, ngành chăn nuôi nước ta cần khắc phục những trở ngại về chi phí TACN cao, nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm chăn nuôi khi tham gia Tổ chức Thương mại thế giới.