Kỷ niệm 160 năm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (24-2-1848 - 24-2-2008)

Giá trị lý luận và thực tiễn của Tuyên ngôn của Ðảng Cộng sản

Thời gian từ năm 1847 đến năm 1848, K.Marx và F.Engels tập trung nghiên cứu và soạn thảo Tuyên ngôn của Ðảng Cộng sản. K.Marx là người viết chính. Lúc đầu, bản thảo được K.Marx viết tại Luân Ðôn (Thủ đô nước Anh), rồi viết ở Brussels (Thủ đô nước Bỉ), sau đó, cùng F.Engels sang Paris (Thủ đô nước Pháp) để viết tiếp. Tại Paris, K.Marx miệt mài suốt một tháng ròng để sửa chữa, bổ sung hoàn chỉnh bản thảo.

Trong những ngày cuối tháng 1-1848, bản thảo được hoàn thành và được gửi sang Luân Ðôn để xuất bản. Ðến tháng 2-1848, thì in xong và đến tháng 3-1848, Paris nhận được một nghìn cuốn để phát hành ở nước Pháp và nước Ðức. Số cuốn còn lại được gửi đi các nước khác. Từ bấy đến nay, Tuyên ngôn đã được tái bản rất nhiều lần với các thứ tiếng Anh, Pháp, Ðức, Nga, Italia, Tây Ban Nha, Bồ Ðào Nha, Ba Lan, Ðan Mạch, Hungary, Bulgaria, Trung Quốc, Việt Nam,... Bản in bằng tiếng Thụy Ðiển vào khoảng cuối năm 1848 do nhà xã hội không tưởng Gơ-tơ-rếch phát hành. Trong bản in này, bản dịch đã xuyên tạc khẩu hiệu: "Vô sản thế giới đoàn kết lại" bằng khẩu hiệu: "Tiếng nói của nhân dân là tiếng nói của chúa". Năm 1893, V.I.Lê-nin dịch Tuyên ngôn ra tiếng Nga. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã dịch Tuyên ngôn ra tiếng Việt.

Về mặt văn bản học, hiện tại chỉ còn giữ được một trang duy nhất của bản thảo Tuyên ngôn do K.Marx viết tay. Bản in đầu tiên ở Luân Ðôn có chăng chỉ còn vài cuốn.

Nội dung của Tuyên ngôn toát lên những tư tưởng cách mạng sáng ngời:

Một là, Tuyên ngôn là đỉnh cao của sự sáng tạo của những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, một văn kiện có tính cương lĩnh của chủ nghĩa cộng sản khoa học, một sản phẩm lý luận chính trị quốc tế lớn lao, một định hướng tiến lên của cách mạng thế giới.

Hai là, Tuyên ngôn đã khái quát một cách có hệ thống toàn bộ quá trình phát sinh, phát triển của chủ nghĩa tư bản, lột trần những mâu thuẫn nội tại của nó; sự đối kháng giữa giai cấp tư sản với giai cấp công nhân; rằng, việc xác lập chế độ tư bản chủ nghĩa thay cho chế độ phong kiến là một bước tiến của lịch sử phát triển lực lượng sản xuất, sự tiến bộ về kinh tế, sự phát triển của văn hóa và khoa học hiện đại. Tuy nhiên, tới một giai đoạn nào đó, những quan hệ sản xuất của xã hội tư sản đã không còn phù hợp với những lực lượng sản xuất đã lớn mạnh, chúng bắt đầu kìm hãm sự phát triển hơn nữa của lực lượng sản xuất, sẽ phá bung ra thành cuộc cách mạng về quan hệ sản xuất. Khi ấy, từ tiến bộ khi giai cấp tư sản còn đang đấu tranh chống lại chế độ phong kiến, thành một giai cấp tư sản phản động, một chướng ngại trên con đường tiến bộ xã hội. Trong chế độ tư bản chủ nghĩa, với quyền lực vô biên của đồng tiền, đã biến mối quan hệ của con người thành quan hệ mua bán và trao đổi đơn thuần.

Ba là, Tuyên ngôn đã chứng minh sự tan vỡ của chế độ tư bản chủ nghĩa là điều hiển nhiên, vì sự vùng lên quật đổ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động khi họ bị giai cấp tư sản bóc lột. Tuyên ngôn chỉ ra rằng, cuộc đấu tranh giữa những người bị áp bức và những kẻ áp bức, kể từ khi xã hội nguyên thủy tan rã, là động lực chủ yếu của sự phát triển lịch sử. Tuy nhiên, về điểm này, K.Marx và F.Engels không luận giải được sự điều chỉnh và sự nắm lấy khoa học và công nghệ, sự phát triển lực lượng sản xuất của chủ nghĩa tư bản, nên nó sẽ tồn tại trong một thời gian dài, cũng như chế độ phong kiến đã tồn tại trong một thời gian rất dài mới bị chế độ tư bản lật đổ.

Bốn là, Tuyên ngôn đã luận chứng cho một luận điểm về vai trò lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân, giai cấp cách mạng nhất trong tất cả các giai cấp đã có trong lịch sử. Giai cấp công nhân đấu tranh với chủ nghĩa tư bản không phải vì sự giải phóng của riêng họ, mà còn vì lợi ích của tất cả nhân dân lao động, bằng cách giải phóng họ vĩnh viễn thoát khỏi những áp bức và bất công.

Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân được Tuyên ngôn xác lập một cách dứt khoát, rõ ràng là nó diễn ra trước hết là trên miếng đất dân tộc, đoàn kết tất cả lực lượng tiến bộ của dân tộc lại chung quanh mình.

Tuy nhiên, Tuyên ngôn chỉ tập trung phân tích về giai cấp công nhân, mà không phân tích vai trò to lớn của giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác, những người bạn đồng hành của giai cấp công nhân.

Năm là, Tuyên ngôn chỉ ra những quy luật chủ yếu của cách mạng vô sản là đưa giai cấp công nhân, từ địa vị của những người làm thuê, bị bóc lột, thành giai cấp lãnh đạo xã hội và thiết lập nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Sáu là, Tuyên ngôn đã phác thảo những nét chủ yếu của chế độ cộng sản chủ nghĩa và cũng chỉ ra rằng, chủ nghĩa cộng sản không phải được xác lập ngay lập tức, mà được xác lập trong tiến trình cải tạo dần  dần xã hội cũ thành xã hội mới. Khi chủ nghĩa cộng sản được thiết lập, thì sự áp bức thuộc địa và những cuộc chiến tranh xâm lược, những cuộc nội chiến sẽ vĩnh viễn không còn nữa.

Tuyên ngôn gắn chủ nghĩa cộng sản với sự phồn thịnh thật sự của sản xuất vật chất, với sự phát triển vũ bão của lực lượng sản xuất, kết hợp ở trình độ cao sự giáo dục với sản xuất vật chất, làm thỏa mãn đầy đủ nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội. Lúc ấy, con người sẽ làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu (sau này, các nhà mác học phát triển thêm: ở giai đoạn thấp, tức chủ nghĩa xã hội, con người sẽ làm theo năng lực,  hưởng theo lao động).

Tuy nhiên, về vấn đề này, Tuyên ngôn cũng chỉ nêu khái quát những nét đặc trưng của chế độ tương lai mà thôi. Ngày nay, các nhà mác học phải phát triển lý luận lên rất nhiều mới có thể "lấp được chỗ trống" những vấn đề của chủ nghĩa xã hội hiện đại mà trong Tuyên ngôn chưa nêu.

Bảy là, Tuyên ngôn phản ánh những cơ sở nhân đạo chủ nghĩa  cao cả thấm sâu vào trong mọi quan hệ giữa người và người dưới chế độ cộng sản chủ nghĩa. "Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người"(1). Sự nhất trí hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội sẽ được xác lập một cách công bằng, văn minh trong xã hội cộng sản. Tuyên ngôn phê phán quyết liệt sự vu khống của những phần tử đối lập xuyên tạc, cho rằng, chủ nghĩa cộng sản muốn thủ tiêu sở hữu cá nhân do lao động của bản thân làm ra, thủ tiêu tự do cá nhân, xóa bỏ tổ quốc, gia đình, học vấn...

Tám là, Tuyên ngôn đặt cơ sở cho học thuyết về đảng của giai cấp công nhân với tư cách là người tổ chức và lãnh tụ của giai cấp công nhân. Việc thành lập đảng cộng sản là điều kiện cần có và phải có để giai cấp công nhân giành lấy chính quyền và cải tạo xã hội. K.Marx và F.Engels nhấn mạnh rằng, những người cộng sản cần phải hành động tùy theo những điều  kiện lịch sử, chứ không phải theo những khuôn mẫu cứng nhắc, vì lý luận của chủ nghĩa cộng sản và đảng cộng sản không phải là phương thuốc vạn năng. Khi đề xuất một đường lối cụ thể, đảng phải tính đến mục tiêu trước mắt phục tùng mục đích cuối cùng; kết hợp hài hòa giữa nhiệm vụ quốc tế và nhiệm vụ dân tộc, ủng hộ các trào lưu tiến bộ và cách mạng, đồng thời, tỏ rõ thái độ phê phán đối với những ảo tưởng của những đồng minh của mình.

Chín là, Tuyên ngôn đánh giá những trào lưu chính trị khác nhau; vạch trần thực chất của chủ nghĩa xã hội phong kiến, chủ nghĩa xã hội cơ đốc, chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản với sự biến thể của nó ở Ðức, tức là "chủ nghĩa xã hội chân chính". Những thứ "chủ nghĩa xã hội" này lúc ấy xuất hiện nhan nhản ở châu Âu. Ðó là những thứ "chủ nghĩa xã hội" cải lương, bảo thủ, cần phê phán, vì nó rất có hại và nguy hiểm về mặt tư tưởng xã hội.

Mười là, Tuyên ngôn thừa nhận công lao của những nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng: Xanh-xi-mông, Phu-ri-ê, Ô-oen, xem đó là những bậc tiền bối của chủ nghĩa cộng sản khoa học. K.Marx và F.Engels nhận định rằng, trong những tác phẩm của họ đã cung cấp những tư tưởng và tài liệu quý báu để phê phán chủ nghĩa tư bản và tôn vinh giai cấp công nhân. Nhưng do cơ sở lý luận của nó có  cái gì rất chông chênh, nên nó trở nên xa rời cuộc sống và mất hết ý nghĩa thực tiễn của nó.

Tóm lại, Tuyên ngôn của Ðảng Cộng sản, với những lý luận sắc bén, đầy sức thuyết phục, đã biến chủ nghĩa xã hội từ không tưởng thành khoa học, thành thực tiễn đấu tranh cách mạng. Ðó là cống hiến vô giá của hai nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học: K.Marx và F.Engels.

Trải qua 160 năm kể từ khi Tuyên ngôn của Ðảng Cộng sản ra đời, trên trường chính trị quốc tế xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng và nổi lên hai trào lưu: chủ nghĩa xã hội khoa học và chủ nghĩa xã hội dân chủ. Thực ra thì cả chủ nghĩa xã hội khoa học và chủ nghĩa xã hội dân chủ đều bắt nguồn từ Quốc tế 1 và Quốc tế 2. Quốc tế 1 do K.Marx sáng lập. Quốc tế 2 do F.Engels sáng lập. Trong quá trình vận động của lý luận, nhất là từ sau khi F.Engels qua đời vào năm 1895, Quốc tế 2 dần dần ngả sang mầu sắc cải lương và hình thành chủ nghĩa xã hội dân chủ, hình thành nên Quốc tế xã hội, trong khi đó, V.I.Lê-nin cũng sáng lập ra Quốc tế 3 (Quốc tế Cộng sản). Quốc tế 3 là quốc tế phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học  trên nền tảng lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học của K.Marx, F.Engels. Chỗ khác nhau cơ bản giữa chủ nghĩa xã hội khoa học và chủ nghĩa xã hội dân chủ chính là quan điểm nhận thức về vấn đề giai cấp và vấn đề chính quyền. Chủ nghĩa xã hội khoa học chủ trương lật đổ chế độ nhà nước tư bản bằng cách mạng và xây dựng chế độ nhà nước xã hội chủ nghĩa. Còn chủ nghĩa xã hội dân chủ chủ trương bảo vệ chế độ nhà nước tư bản, có chăng, cải cách của họ cũng chỉ là nhỏ nhoi trong khuôn khổ của chế độ nhà nước tư bản chủ nghĩa.

Phát huy tinh thần cách mạng của Tuyên ngôn, đã có một giai đoạn lịch sử, chủ nghĩa xã hội khoa học trở thành một hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Cán cân chính trị thế giới đã có lúc nghiêng về chủ nghĩa xã hội khoa học. Các thế lực đế quốc đã có giai đoạn rất lo sợ sự phát triển của hệ thống xã hội thế giới. Nhưng do nhiều nguyên nhân, đến cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, Liên Xô và toàn bộ các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Âu sụp đổ. Chủ nghĩa xã hội khoa học lâm vào thoái trào. Mặc dù gặp khó khăn, nhưng chủ nghĩa xã hội khoa học sẽ còn sống mãi với tinh thần của Tuyên ngôn của Ðảng Cộng sản.

Chúng ta đang xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Ðảng. Ðảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết hợp nhuần nhuyễn và phát triển sáng tạo giữa lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học với thực tiễn cách mạng Việt Nam mà cốt lõi của vấn đề là độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, giai cấp gắn với dân tộc, thành đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trải qua những chặng đường lịch sử, cục diện chính trị thế giới diễn biến rất phức tạp, cuộc đấu tranh tư tưởng có những lúc diễn ra gay gắt, nhưng đều đã vượt qua, cách mạng vẫn đang từng bước tiến lên, bởi Ðảng Cộng sản Việt Nam có đường lối đúng đắn cho mỗi thời kỳ. Ðường lối đó bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

------------------------

(1) K.Marx - F.Engels: Toàn tập, tập 4, tr.447.

Có thể bạn quan tâm