Lúc bấy giờ, hơn 800 nghìn người dân vùng cao, thuộc 23 dân tộc anh em sống cuộc đời nghèo khó, tăm tối dưới chân các ngọn núi đá xơ xác hoặc chót vót trên đỉnh núi mờ sương. Khi con đường mang tên Hạnh Phúc vươn tới, mở ra trang mới cho cuộc sống đồng bào các dân tộc vùng cao.
Lên Hà Giang vào mùa xuân khi hoa đào, hoa lê nở rộ, cùng những lễ hội độc đáo hoặc phiên chợ vùng cao rực rỡ sắc mầu, nếu có thời gian thư thả mà đi bằng ngựa để được ngắm nhìn thì hẳn là không có niềm vui nào sánh được. Mùa thu năm 1964, nhà văn Nguyễn Tuân đã từng cưỡi ngựa lên Lũng Cú, rồi sau đó tác phẩm nổi tiếng Mỏm Lũng Cú tột bắc đã ra đời. Ðến hôm nay, ở Hà Giang vẫn có nhiều ngựa, nhưng lên đây đã có quốc lộ 4C - con đường còn có tên là đường Hạnh Phúc, xe vận tải, xe khách các loại đều đi được. Ngày trước, Hà Giang xa xôi, khuất nẻo và còn nhiều khó khăn, giờ đã khác. Từ sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước, từ sự nỗ lực của Ðảng bộ và đồng bào các dân tộc, đến thời điểm này, 194 xã của Hà Giang đều có đường ô-tô đến tận trung tâm. Hệ thống giao thông phản ánh tình hình kinh tế - xã hội ở mỗi vùng, thì với Hà Giang, đường mở đến đâu văn minh đến đấy, không chỉ việc đi lại của người dân thuận tiện, mà kinh tế - xã hội cũng theo đó mà phát triển.
Trong Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Ðôn đã từng mô tả con đường từ Tuyên Quang lên Hà Giang: "Ðường bộ hành quân từ trấn sở Tuyên Quang lên Hà Giang, người đi bộ chẳng qua tám, chín ngày. Ðây là đường chính, hai bên đều là dân cư, không hiểm trở lắm. Ðường thủy hành quân từ trấn sở Tuyên Quang đi Hà Giang: ngược sông Cả (sông Lô) đi lên mất 19 ngày rưỡi, con sông này khá rộng. Thuyền lớn của diêm hộ Tháp Mai đều có thể đi được. Nếu dùng thuyền độc mộc ngược dòng nước mà lên, chẳng qua chỉ tám, chín ngày có thể đến được". Ðã có lần tôi đi "nửa vòng Việt Bắc", từ Thái Nguyên, Bắc Cạn, Cao Bằng, theo quốc lộ 34 về Bắc Mê - Hà Giang, để ngắm nhìn đâu là "dốc ngựa trụ thai" đâu là "dốc long bánh chè gối" (chữ của Nguyễn Tuân). Qua quốc lộ 4C, còn có tên là đường Hạnh Phúc, tôi thầm biết ơn ai đã sáng tạo ra cái tên ấy. Quả thật, không giống bất kỳ tuyến đường nào trên Tổ quốc mình mà tôi đã đi qua. Không chỉ vì nó quá hiểm trở, mà đặc biệt hơn vì được mở trên đá tai mèo ở độ cao từ 1.600 m đến 1.800 m so với mặt nước biển. Mỗi mét đường, mỗi cây cầu, vách đá, bờ kè, đều có máu, mồ hôi, công sức của đồng bào các dân tộc Hà Giang và những thanh niên xung phong từ nhiều miền đất nước. Tuyến đường dài gần 200km, và đi qua không biết bao nhiêu cổng trời vực thẳm. Có thể kể tên một số cổng trời nổi tiếng: cổng trời Quản Bạ (hay còn gọi là cổng Thiên Ðàng) để lên cao nguyên phía bắc; cổng trời Cán Tỷ còn hiểm trở hơn nhiều; cổng trời Thẩm Mã, quanh co nối với dốc Chín Khoanh; rồi cổng trời Sà Phìn mây núi quanh năm lạnh lẽo một mầu đá xám. Riêng con đèo Mã Pì Lèng từ Ðồng Văn sang Mèo Vạc dài 22 km, không cần kể thì ai cũng biết, bởi nó quá nổi tiếng, không hổ danh là một trong những "đệ hùng quan" của đất nước.
Tấm bia đá kể về con đường trước đây dựng tại chợ Mèo Vạc, về chuyện dựng lại tấm bia ở điểm cao nhất của con đèo "sống mũi ngựa" này. Mặc dù có thành lan can xi-măng cốt thép để bảo đảm an toàn cho du khách, nhưng người yếu tim thì không thể đứng lâu được. Từ đây phóng tầm mắt ra bốn hướng, núi non trùng điệp hùng vĩ bị chia cắt dữ dội, dòng sông Nho Quế mảnh mai xanh mầu ngọc lưu ly về xuôi như bất chấp không gian, thời gian. Mặc dù tấm bia đá bên bờ vực đã khắc ghi tương đối chi tiết về sự ra đời của con đường Hạnh Phúc, từ công người, công máy móc đến đất đá, đào phá, san ủi, nhưng vẫn chưa nói hết tinh thần dũng cảm, sự hy sinh và sức sáng tạo để làm nên con đường Hạnh Phúc. Nên chăng, có một tượng đài đặt ở Ðồng Văn hay Mèo Vạc để ghi nhớ chiến công của những con người đã khai sinh ra tuyến đường này.
Sau chiến thắng lịch sử Ðiện Biên Phủ (1954), miền bắc bắt tay vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng chủ nghĩa xã hội dẹp bọn thổ phỉ ở miền núi phía bắc. Cùng lúc đó toàn Ðảng và toàn dân còn phải chuẩn bị đối phó với âm mưu mở rộng chiến tranh của đế quốc Mỹ và thắp sáng niềm tin, ý chí giải phóng miền nam, thống nhất đất nước. Dù còn nhiều công việc to lớn, khẩn trương nhưng con đường Hạnh Phúc vẫn được khởi công trong niềm hân hoan, tin tưởng của đồng bào các dân tộc tỉnh Hà Giang.
Ðúng ngày 10-9-1959, tiếng mìn phá đá âm vang cao nguyên - mệnh lệnh mở đường Hạnh Phúc bắt đầu. Vừa mở đường, vừa đánh trả bọn phỉ tàn ác ở Lùng Búng (Bản Muồng), Lũng Phìn, Mèo Vạc. Và lạ thay, thiếu thốn gian khổ, rừng thiêng nước độc, muỗi vắt, sốt rét, hổ beo rình rập, vẫn không làm nguội lạnh nhiệt huyết của tuổi trẻ - những thanh niên ưu tú mở đường trên cao nguyên đá. Ngày 26-3-1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên thăm đồng bào các dân tộc Hà Giang. Ðón Bác ở Quảng trường 26-3, cả tỉnh Hà Giang là ngày hội. Và ngay buổi tối hôm Bác lên, Người đã đề nghị cho gặp các đồng chí trực tiếp phát tuyến, chỉ huy mở đường Hạnh Phúc. Bác nói ngắn gọn, động viên mọi người dù khó khăn đến mức nào cũng phải quyết tâm làm bằng được con đường lên địa đầu Tổ quốc, để phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân.
Tham gia làm đường có 1.039 thanh niên nam nữ của sáu tỉnh: Cao - Bắc - Lạng - Thái - Tuyên - Hà, với một nghìn dân công tại chỗ. Về phương tiện, chỉ có một chiếc máy khoan đá, không có xe vận tải. Thế mà ý chí con người đã hạ núi, bạt đèo, ngăn sông suối làm cầu - cống và mỗi ngày, đường Hạnh Phúc dần dà hiện rõ hình hài, vóc dáng, cứ thế cuồn cuộn vươn dài về phía trước. Mà ngót 200 km đường đâu có thuần nhất, trong đó là 66 km đá xanh, 59 km đá sít, 29 km đất. Nghĩa là để hoàn thành con đường, sau ròng rã trong sáu năm trời không ngưng nghỉ, đã phải đào phá, san lấp 60 vạn mét khối đá, hai triệu mét khối đất, sử dụng 25 tấn mìn cùng với hai triệu ngày công. Riêng đoạn qua Mã Pì Lèng 22 km dốc đứng thẳng 90o, toàn đá "gan trâu", đá "mặt quỷ", để đục lỗ nổ mìn, chùn choòng, gẫy choòng, choòng hóc trong lỗ đá là chuyện bình xuyên. Rồi các anh công nhân phải treo mình vào vách núi phá đá, đốt mìn. Mỗi cây số đường ở đây phải mất từ 14 nghìn đến 19 nghìn công lao động, có cây số phải sử dụng tới 33 nghìn công, phải qua hơn 20 mùa trăng tròn, đoạn đường này mới hoàn thành.
Thời tiết vùng cao khắc nghiệt, nắng thiêu đốt mùa hè, mùa đông giá buốt kéo dài, lại nhiều ngày có tuyết. Thẩm Mã, dốc Chín Khoanh, Lán Xì, Phó Bảng là rét nhất. Rồi từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau là khan hiếm nước gay gắt. Trên cổng trời Cán Tỷ nhìn thấy dòng sông Tráng Kìm phía dưới, nhưng muốn xuống lấy nước, lại phải leo qua tám cây số. Ở Lũng Cẩm, Thài Phìn Tủng thì khó khăn hơn, vì không có nước. Ở Sà Phìn thì phải xuôi về Mậu Duệ (Yên Minh) 40 cây số mới có chỗ để lấy nước. Lũng Táo, Sà Phìn, Lũng Hòa là nơi hiểm trở, có nhiều đá nhất. Riêng 40 m đường ở Lũng Hòa, một đại đội thanh niên của tỉnh Cao Bằng làm trong ba tháng bạt đi 3,5 vạn m3 đá... Và tất cả đã vượt qua, để đến ngày 12-3-1965, tuyến đường Hạnh Phúc đã thông tới Mèo Vạc.
200 km của quốc lộ 4C đúng là 200 cây số của con đường lịch sử. Từ việc hoàn thành nhiệm vụ mở đường, qua gian lao và thử thách, đã tôi luyện nên một thế hệ thanh niên mới ở vùng cao. Họ sống có trách nhiệm, họ mang tuổi trẻ và khát vọng đi xa, họ làm việc với lẽ sống là sự cống hiến trí lực cho đất nước, quê hương. Ðã có những tấm gương hy sinh, nhiều người mãi mãi nằm lại dọc đường. Các cấp, các ngành tỉnh Hà Giang đã quy tập về nghĩa trang huyện Yên Minh. Mấy chục ngôi mộ thanh niên mở đường Hạnh Phúc nằm khiêm tốn, lặng lẽ dưới tấm bia đá khắc dòng chữ Nghĩa trang thanh niên xung phong giữa ngút ngàn cây cỏ. Các anh chị nằm lại đây, trên cao nguyên đá ở cực bắc Tổ quốc. Nửa thế kỷ đã qua, kỷ niệm về một thời gian nan không thể nào quên. Hy sinh của các anh, các chị đã làm nên tầm vóc của con đường huyết mạch, đưa quê hương vươn tới tương lai. Và cũng từ gian lao và thử thách, mà nhiều tình yêu đôi lứa đã xuất hiện. Những đứa trẻ sinh ra, lớn trên lưng mẹ, cùng cha mẹ trải dài theo cung đường gập ghềnh vươn về phía trước, hôm nay đang là chủ nhân của vùng đất này, tiếp bước trên con đường cha anh đã đi.
Sau khi tuyến đường Hạnh Phúc hoàn thành. Theo nguyện vọng của đồng bào các dân tộc tỉnh Hà Giang, tháng 7-1973, tượng Bác Hồ đã được dựng tại Mèo Vạc, do nhà điêu khắc Song Văn thể hiện. Vậy là tấm lòng của đồng bào người Mông, Lô Lô, Xuồng, Phù Lá đã mở đường đón Bác về với cực bắc. Thời gian như mạch nguồn không ngừng chảy, cây pơ-mu vẫn tỏa bóng dưới chân Người như khúc dân ca bất tận của đồng bào người Mông: "Câu hát ngỡ hết lại không hết, câu hát lại sinh ra", và mầu hoa thắm, sắc áo chàm, ánh mắt trẻ thơ trong veo ngày ngày đi về bên Bác như về với người Cha kính yêu, về với cội nguồn dân tộc. Hơn 50 năm qua rồi, ý nguyện của Bác ngày nào giờ đã trở thành hiện thực. Sau mấy chục năm, cuộc sống ở nơi địa đầu của Tổ quốc đã có sự chuyển mình mạnh mẽ. Từ lối mòn ngày nào, theo hướng bàn tay Bác chỉ, một con đường lớn đã mở ra, con đường Hạnh Phúc đến với ấm no, hạnh phúc.