Dưới chân dãy Pù Xén


Sau gần hai tiếng đồng hồ quăng quật trên quãng đường chỉ dài chừng 25 km, chiếc xe U-oát xuống dốc Pù Xén, vào đất Châu Phong, bắt đầu là bản Ðôm, rồi bản Tong... Ðường đến trung tâm xã chạy men theo chân núi, một bên là cánh đồng nhỏ trồng lúa có những cọn nước cũ kỹ, mốc đen đang kiên nhẫn vục nước từ con suối nhỏ đổ vào máng tưới, một bên là  làng với những ngôi nhà cột chôn hoặc kê chân theo tập tục của người Thái.

Chợ trung tâm cụm ba xã Châu Phong, Châu Hoàn, Diên Lãm vẫn đông người mua, bán. Hàng hóa ê hề, so với chợ ở thị trấn Quỳ Châu chẳng kém là mấy. Ở ngay giữa chợ có một hiệu may khá lớn, vải vóc, áo quần bày la liệt, trước cửa còn treo lủng lẳng miếng gỗ to như cái mâm nham nhở vết rìu đẽo, trên có viết mấy chữ "May đo thời trang moden", nhìn kỹ thấy chủ yếu là mấy loại áo hoa, quần vải đen dành cho các bà, các chị.

Chúng tôi ghé vào quầy hàng nhỏ bày biện đủ thứ, nào là lưỡi cày, cuốc xẻng để lẫn với mũ mãng, muối, gạo, dầu hỏa, xà phòng cùng những bao xi-măng, phân bón, sách vở...  Chủ hàng đon đả mời chào. Hỏi chuyện hồi lâu, chúng tôi được biết, quầy hàng này là của Trung tâm thương mại Quỳ Châu thuộc Công ty thương nghiệp miền núi   tỉnh Nghệ An. Mục đích chính của quầy hàng là cung cấp các mặt hàng thiết yếu được Nhà nước trợ giá như muối i-ốt, dầu hỏa, giấy, vở học sinh. Mấy năm gần đây, cửa hàng còn thêm nhiệm vụ cấp phát miễn phí muối, dầu, sách vở cho các gia đình nghèo trong khu vực Châu Hoàn Lãm theo chủ trương của tỉnh. Chị Mai phụ trách quầy hàng giải thích:

- Bọn tôi hưởng lương theo doanh thu, bán một lít dầu thì được 80 đồng, 10 kg muối mới được 500 đồng tiền lương, khó khăn quá nên mọi người xin kinh doanh thêm các mặt hàng khác để kiếm thêm thu nhập lo cho con cái ăn học.

Chị Mai không phải là dân tại chỗ mà là người Kinh ở mạn dưới Thanh Chương lên theo "đội quân thương nghiệp" phục vụ miền núi đã được hơn hai mươi năm. Vất vả, khó khăn là thế mà chị vẫn cố, chưa chịu về xuôi.

Ở Châu Phong, người như chị Mai không phải là hiếm. Lúc rẽ vào Trạm y tế đa khoa khu vực nằm ngay cạnh chợ, chúng tôi bắt gặp một hình ảnh trông tồi tội đến nao lòng. Trạm y tế đang được sửa chữa, nâng cấp và xây mới  nên bừa bộn gạch, vữa, sỏi, ngói. Trong ngôi nhà lợp lá cọ tuềnh toàng có một người đàn ông trẻ, trắng trẻo, vận quần đùi, áo may ô đang hì hụi nấu cơm trưa. Mớ củi nứa bốc cháy ngùn ngụt trùm lấy chiếc xoong nhôm nhỏ kiểu "niêu cơm Thạch Sanh", chẳng mấy chốc nồi cơm sôi, anh ta nhẹ nhàng rút  bớt lửa. Nhìn những thao tác thành thục đậm chất "anh nuôi" đó tôi đoán chắc đấy là một người có "thâm niên" trong việc bếp núc. Khi tôi bước vào hỏi chuyện, anh cười cười, phân bua:

- Tôi nấu luôn cho cả bữa chiều nữa đấy, một mình mà bữa nào cũng nấu thì cách rách lắm. Hồi đầu toàn phải ăn cơm không nhão thì khê, sống, nấu mãi thành quen, nay thì bảo đảm "cơm dẻo, canh ngọt".

Anh là Lê Tiến Dũng, bác sĩ, Trưởng trạm y tế khu vực, quê ở Nam Ðịnh. Hơn hai mươi năm trước, tốt nghiệp Ðại học y Thái Bình, anh vào đây làm bác sĩ ở Lâm trường Châu Phong. Lâm trường giải thể, anh ra thị trấn công tác ở Trung tâm Y tế huyện, được một thời gian thì tình nguyện trở lại đây. Như lời anh nói, thì lúc đó trạm cần bác sĩ, thêm vào đó là anh đã ở đây nhiều năm nên những căn bệnh thông thường của người dân vùng này anh rất rành rẽ và đã có khá nhiều kinh nghiệm trong việc điều trị. Vợ con anh hiện vẫn ở thị trấn Quỳ Châu. Tuy cách nhà không xa, nhưng vì đường đi lối lại khó khăn, chuyện ốm đau đâu trừ ngày nghỉ, đêm hôm, khuya sớm, nên mỗi tháng anh cũng chỉ về thăm nhà được một, hai lần. Buổi đầu trung tâm chỉ có anh với hai y sĩ, nay đã có thêm hai y tá và bốn y sĩ, đều là người địa phương.

- Anh có định xin về huyện không? -Trả lời câu hỏi của tôi, anh nhẹ nhàng nói: - "Mình ở đây quen rồi nên chẳng muốn đi đâu nữa". Nghĩa là anh lại tiếp tục "cơm niêu, nước lọ" như gần chục năm qua.

Bữa cơm trưa ở Châu Phong đậm chất truyền thống của người Thái có món măng rừng nấu xáo vịt, loại vịt ré thịt chắc và thơm chỉ ở Quỳ Châu mới có, món rêu đá được làm từ rêu mọc trên đá suối trộn với rau lang và gia vị rồi giã nhỏ gói vào lá chuối đổ lên, món moọc hoọc thì bao gồm thịt vịt, cơm nếp nương, gia vị giã nhuyễn cũng gói vào lá chuối cho vào nồi đồ như đồ xôi, và thứ không thể thiếu được là rượu cần. Sau những tiếng "cha mơi" (xin mời) là cạn một cữ rượu được đong bằng sừng của con trâu cỡ ba, bốn năm tuổi. Chủ tịch UBND xã Vi Văn Trân phấn chấn nói:

- Nhờ mấy năm nay mùa màng khấm khá, chăn nuôi phát triển mạnh mà đời sống của bà con dễ thở hẳn ra, mâm cơm cũng theo đó đầy đặn hơn những năm trước.

Ðể lý giải nguyên nhân tạo nên sự bứt phá mạnh mẽ trong phát triển kinh tế của Châu Phong, sau bữa cơm Chủ tịch Trân dẫn chúng tôi đi thăm  một số công trình được xây dựng từ Chương trình 135, như cầu tràn Trà Lĩnh, công trình thủy lợi Huôi Pùng.

 Anh Trân cho biết, năm năm gần đây, từ nguồn vốn các chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã vùng đặc biệt khó khăn, chương trình hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số của trung ương và tỉnh, Châu Phong đã xây dựng được mười công trình trị giá sáu tỷ đồng. Trong đó, chủ yếu là các công trình thủy lợi, nhờ đó Châu Phong đã chủ động nước tưới, đưa được giống lúa lai chất lượng cao vào thâm canh cho gần 200 ha ruộng nước hai vụ. Năng suất lúa đã đạt mức bốn tấn/ha/vụ. Mùa màng khấm khá là nhờ đó. Nạn đói kỳ giáp hạt kéo dài triền miên từ đời này sang đời khác đã chấm dứt.

Tổng diện tích tự nhiên của Châu Phong là hơn 13 nghìn ha, có 1.200 hộ dân tộc Thái với 6.000 nhân khẩu, nhưng chỉ có bấy nhiêu ruộng nước, nên Châu Phong chủ trương phát triển mạnh chăn nuôi đại gia súc. Từ định hướng đó của Ðảng ủy xã, cùng nguồn vốn vay với lãi suất thấp cho chương trình xóa đói, giảm nghèo, Châu Phong tập trung phát triển đàn trâu, bò.

Ðến nay, cả xã đã có 30 gia đình có đàn trâu, bò từ 30 đến 40 con, hai phần ba số hộ trong toàn xã có từ một đến mười con. Hiện tại, mỗi con trâu cỡ khoảng 1,5 tạ thịt có giá bảy triệu đồng, một con bò hai năm tuổi khoảng bốn triệu đồng. Với chừng ấy số trâu, bò, Châu Phong đã có một số vốn không nhỏ, nhiều gia đình đã thoát khỏi nghèo đói nhờ nuôi bò và trâu. Năm 2003, thu ngân sách trên địa bàn của xã đạt 111% kế hoạch được giao. Châu Phong trở thành xã có tổng thu ngân sách thuộc loại khá của huyện Quỳ Châu.

Chúng tôi đi thăm một số công trình nước sạch tự chảy, vào hỏi chuyện một vài gia đình chăn nuôi giỏi ở một số bản, khi quay về tới trụ sở xã thì trời đã xế chiều và có vài người đang đợi chúng tôi. Ðó là những giáo viên của trường THCS Châu Phong biết có đoàn cán bộ từ huyện vào nên tổ chức một cuộc giao lưu nhỏ mời chúng tôi tham dự. Một vò rượu cần loại vừa được bày ra giữa sân khu tập thể giáo viên, mọi người lần lượt ngồi xuống chiếu vít cong cần dẫn rượu rít từng hơi dài rồi trò chuyện, đàn, hát. Có cô giáo trẻ rít được nửa chừng đã ho sặc sụa, mặt thoắt đỏ lừ rồi buông cần, che miệng nói trong ngượng ngùng:

- Em mới lên đây dạy học nên chưa quen với rượu cần

Tôi vội hỏi:

- Cô giáo quê ở đâu?

- Em ở Quỳnh Lưu, học cao đẳng sư phạm xong thì lên đây dạy học luôn.

- Cô giáo dạy môn gì?

- Em dạy tiếng Anh.- Nói rồi cô đứng dậy đi ra phía sau nhà, tay vẫn che mặt, miệng khúc khích cười.

Ra đến bản Ðôm thì trời tối sập. Ở miền rừng bóng tối đến nhanh không ngờ, mặt trời khuất núi là bóng đêm sập xuống bưng bít, che khuất tất cả. Xe rẽ vào Trường tiểu học bản Ðôm 1, hai, ba cô giáo trẻ ra đón. Anh Xuân, cán bộ Ban Tuyên giáo Huyện ủy Quỳ Châu nhảy xuống xe thông báo vắn tắt với mọi người:

- Buổi sáng các thầy, các cô đã dặn là chiều về ghé vào ăn cơm tối cùng họ cho vui.

Bữa cơm tối chỉ có rượu trắng, không có rượu cần nhưng có tiết canh dúi, thịt dúi quay, thịt vịt rang và sự vui nhộn, mến khách thì không kém nơi nào. Các thầy, cô giáo ở Trường Ðôm 1 cũng ở nhiều nơi từ dưới xuôi lên đây dạy chữ, rèn người cho con em người Thái ở Châu Phong. Mười giờ đêm chúng tôi mới ra đến thị trấn Quỳ Châu. Mệt nhưng mà vui bởi được biết thêm một vùng đất mới, những phong tục, tập quán với những con người thật đáng mến, thật đáng nể phục.

Châu Phong còn nhiều vất vả, thiếu thốn, chưa có đường trải nhựa, chưa có điện, sóng truyền hình cũng chưa đến được, nhưng những con người sống ở đó luôn đoàn kết, thương yêu, đùm bọc nhau, và ai cũng cố làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình để góp sức làm cho đời sống mọi mặt của vùng đất dưới chân dãy Pù Xén này ngày một tốt đẹp, đủ đầy hơn.

Có thể bạn quan tâm