Báo cáo mới “Vùng vẫy nơi rừng sâu” của WWF đề cập đến 13 loài thuộc bộ móng guốc: từ loài nai có kích thước chỉ bằng chú chó nhà cho đến những loài mang biểu tượng văn hóa đặc sắc; từ những loài thú có sừng lớn cho tới những loài hiếm khi được bắt gặp đến nỗi thông tin về chúng phần nhiều là phỏng đoán. Chúng thuộc các loài khác nhau và đang ở các tình trạng khác nhau, nhưng báo cáo khẳng định tương lai của chúng đều vô định. Đối với một số loài đã quá muộn để bàn chuyện tương lai.
Hai loài đặc hữu của khu vực tiểu vùng sông Mê Công mở rộng, bò xám và nai Schomburgk (Rucervus schomburgki), đã tuyệt chủng trên toàn cầu đầu thế kỷ 20. Trong khi đó nai Chó Đông Dương (Axis porcinus) và sao la đang có nguy cơ biến mất vĩnh viễn. Rất nhiều loài khác cũng có số phận tương tự tại các quốc gia mà chúng từng sinh sống, trong đó có nai Cà Toong (Panolia eldii) và bò rừng.
Theo báo cáo, một số loài động vật móng guốc mới được phát hiện trong vòng 20 năm qua được WWF cho là vẫn còn kịp cứu chúng nếu các chính phủ cân nhắc kỹ vấn đề đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học khi đưa ra các quyết định.
Sự phát hiện loài sao la năm 1992 được coi là một trong những phát hiện độc đáo của ngành động vật học thế kỷ 20, nhưng các nhà khoa học vẫn chưa thể quan sát chúng trong tự nhiên và việc khó phát hiện ra loài thú bí ẩn này đã ngăn cản các nhà khoa học ước tính số lượng quần thể của loài này một cách chính xác. Ước tính số lượng sao la có thể từ hàng chục cho tới hai trăm cá thể. Tại Việt Nam, một phương pháp thực thi pháp luật mới, do dự án Carbon và đa dạng sinh học hỗ trợ, đang có những kết quả tốt. Những cán bộ tuần tra rừng người địa phương đã tháo gỡ hơn 14.000 bẫy thú hàng năm trong các chuyến tuần tra trong các khu bảo tồn.
Loài mang nhỏ thứ hai trên thế giới là loài mang Lá (Muntiacus putaoensis) được phát hiện lần đầu tiên tại Myanmar năm 1999. Sở dĩ loài này có tên gọi như vậy là do một lá cây to cũng có thể quấn quanh người nó. Việc bắt gặp loài này hiếm hoi đến nỗi các nhà khoa học hiện nay vẫn chưa có được đủ thông tin về tình trạng và khu vực phân bố của chúng. Trong khi đó, nai Sambar là một trong những loài móng guốc khổng lồ trên thế giới – chỉ có nai Sừng tấm Bắc Mỹ (Cervus canadensis) và nai Sừng tấm châu Âu (Alces alces) có thể to hơn loài này. Số lượng nai Sambar đã giảm nhanh chóng trên toàn bộ khu vực Mê Công do săn bắn.
Quần thể bò rừng, được coi là một trong những loài gia súc hoang dã đẹp và duyên dáng nhất, đã giảm 80% từ cuối những năm 1960. Đồng bằng phía Đông Cam-pu-chia – rừng khô nhiệt đới rộng lớn nhất còn nguyên vẹn tại Đông Nam Á – là nơi có quần thể loài bò rừng lớn nhất trên thế giới, khoảng 2.700 – 5.700 cá thể. Săn bắn bất hợp pháp và buôn bán quốc tế sừng của chúng là một nhân tố chính khiến loài này bị suy giảm.
Bảo tồn các loài thú móng guốc của khu vực liên quan trực tiếp tới số phận của loài hổ, loài đã giảm từ 1.200 xuống còn 350 cá thể từ năm 1998, tại vùng tiểu vùng sông Mê Công mở rộng. Nếu các quần thể con mồi này tiếp tục giảm thì đó sẽ là một mối đe dọa nghiêm trọng tới quần thể hổ còn lại.
WWF đang hợp tác cùng với các chính phủ và đối tác để phục hồi quần thể và đưa các loài móng guốc trở lại rừng, nơi một thời chúng đã sinh sống, và nối liền các khu rừng bị phân mảnh để bảo đảm quần thể loài có thể gia tăng.
Sao la, một loài đặc hữu của Việt Nam sắp biến mất.