Ðồng chí Trường Chinh - người cộng sản mẫu mực, nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng nước ta

Tôi gặp anh Trường Chinh lần đầu vào những năm đầu của thời kỳ Mặt trận Dân chủ tại trụ sở của báo tiếng Pháp Le Travail (Báo Lao Ðộng), do đồng chí Nguyễn Thế Rục có sáng kiến thành lập.

Ngay sau khi ra tù, anh Trường Chinh là người phụ trách Ban lãnh đạo các hoạt động công khai và nửa công khai của Ðảng; tôi là một thành viên. Anh đã cùng chúng tôi lãnh đạo các phong trào của Mặt trận Dân chủ: từ phong trào Ðông Dương Ðại hội, cuộc biểu tình đón Gôđa, cuộc mít-tinh ngày 1-5-1938, cuộc Ðại hội báo chí Bắc Kỳ cho đến các cuộc đấu tranh của thanh niên, công nhân, nông dân,... Lúc bấy giờ tôi đã làm việc với anh Trường Chinh hầu như hằng ngày. Anh Trường Chinh phụ trách chỉ đạo báo chí của Ðảng cả bằng tiếng Việt và tiếng Pháp.

Một sự kiện quan trọng là thời gian đó chúng tôi thường nhận được những bức thư của Bác Hồ ký tên P.C. Lin từ Trung Quốc gửi về. Chúng tôi đã đăng những bài này lên báo Notre voix (Tiếng nói chúng ta). Qua những bức thư đó, Người đã khéo léo truyền đạt lại những điểm chính trong Nghị quyết Ðại hội VII của Quốc tế Cộng sản cũng như những kinh nghiệm kháng chiến chống Nhật Bản của nhân dân Trung Quốc,... Ðồng chí nhắc nhở phải chống chủ nghĩa biệt phái, phải mở rộng Mặt trận Dân chủ chống chủ nghĩa phát xít, phải kiểm soát chặt chẽ báo chí công khai của Ðảng để tránh những sai lầm về chính trị và không được có một thỏa hiệp nào, nhượng bộ nào với bọn Trốt-kít,... Những bức thư đó đã có tác dụng chỉ đạo rất lớn đối với sự lãnh đạo của Ðảng ta lúc bấy giờ.

Những cống hiến của anh Trường Chinh đối với sự nghiệp cách mạng của nước nhà thật là to lớn. Trong bài này, tôi chỉ muốn nêu một vài điểm nổi bật trong sự nghiệp của đồng chí Trường Chinh.

Ðiểm nổi bật đầu tiên diễn ra trong cuộc gặp gỡ đầu tiên của anh Trường Chinh với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vào tháng 5-1941. Anh Trường Chinh đã kể lại rằng: Cũng như những thanh niên giác ngộ, yêu nước khác đến với chủ nghĩa cộng sản lúc bấy giờ, ai cũng mơ tưởng được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Lúc được gặp Nguyễn Ái Quốc anh Trường Chinh đã cảm động đến rơi nước mắt.

Với tư cách là Quyền Tổng Bí thư, anh và anh Hoàng Văn Thụ đã nhanh chóng tiếp thu những ý kiến chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, tổ chức Hội nghị Trung ương lần thứ tám. Hội nghị đã ra nghị quyết lịch sử đánh dấu sự chuyển hướng về chỉ đạo chiến lược của cách mạng Việt Nam, đặt nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc lên trên hết, tạm gác nhiệm vụ cách mạng thổ địa. Hội nghị đề ra chủ trương đoàn kết tất cả các giai cấp và tầng lớp yêu nước trong Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, xây dựng căn cứ địa, chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hội nghị Trung ương lần thứ tám có tầm quan trọng của một Ðại hội.

Từ tháng 8-1942 đến tháng 9-1944, Bác Hồ đi vắng, có thời gian khá dài không có tin tức; trên cương vị Tổng Bí thư, trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, anh Trường Chinh đã đảm nhiệm trọng trách lãnh đạo phong trào và đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc. Nổi bật nhất là anh đã dự báo việc Nhật - Pháp bắn nhau và sớm thay mặt Thường vụ Trung ương thảo ra Chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta. Cùng với Lời kêu gọi của Nguyễn Ái Quốc, bản Chỉ thị ấy đã chỉ rõ thời cơ đang đến, khả năng thời cơ xuất hiện và thái độ của ta nên như thế nào. Tôi đã đọc đi đọc lại bản Chỉ thị này và rất tâm đắc với nhận định nói rõ về việc Ðồng minh đổ bộ là một thời cơ khởi nghĩa, lại nhấn mạnh: có khi Ðồng minh chưa đổ bộ, nhưng ta không đợi Ðồng minh đổ bộ mới khởi nghĩa mà ta phải chủ động khởi nghĩa khi thời cơ đến. Chỉ thị đó có tác dụng quyết định trong việc động viên, hướng dẫn toàn Ðảng trong cao trào chống Nhật cứu nước.

Khi thấy thời cơ đã đến, anh Trường Chinh triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ để thống nhất các lực lượng vũ trang cách mạng. Bác về nước thấy thời cơ đến gấp đã chỉ thị cho tôi, sớm nhất là tháng tư chậm nhất là tháng bảy, phải bắt liên lạc với anh Trường Chinh và các cán bộ chủ chốt ở trong nước để kịp thời triệu tập Hội nghị Cán bộ Trung ương, tiếp đó là Ðại hội quốc dân đã họp ở Tân Trào vào tháng 8-1945, quyết định tổng khởi nghĩa, lập ra Ủy ban dân tộc giải phóng, sau này đã trở thành Chính phủ Cách mạng lâm thời.

Ngay đêm 13-8-1945, Ủy ban khởi nghĩa đã ra Quân lệnh số 1 kêu gọi tổng khởi nghĩa. Ðề nghị các nhà viết sử nên nghiên cứu lại xem mệnh lệnh khởi nghĩa đã được chuyển đi đến những đâu, nơi nào nhận được lệnh khởi nghĩa rồi mới đứng lên, nơi nào tuy chưa nhận được lệnh khởi nghĩa nhưng chủ động đứng lên khởi nghĩa. Ngày 19-8, Thủ đô Hà Nội đã đứng lên tổng khởi nghĩa; nhân dân Hà Nội có nghị lực năng động, sáng tạo rất lớn. Nhiều nơi khác cũng có tinh thần như vậy. Ðiều đó chứng tỏ khi ý Ðảng lòng dân đã nhất trí thì tạo nên sức mạnh phi thường.

Chỉ trong hơn mười ngày, Cách mạng Tháng Tám đã thành công trong cả nước. Ðó là sự kiện có một không hai trong lịch sử. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời và tuyên bố độc lập.

Ðiểm thứ hai là, trong cuộc chiến tranh 30 năm để giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, công lao của anh Trường Chinh là rất to lớn. Bác Hồ là linh hồn của cuộc kháng chiến chống Pháp, nhưng đề ra đường lối cụ thể, chỉ đạo cụ thể về lý luận với cuốn Kháng chiến nhất định thắng lợi, là do anh Trường Chinh. Trên cương vị Tổng Bí thư, anh Trường Chinh không chỉ chú trọng chỉ đạo những công tác chung mà còn rất coi trọng chỉ đạo công tác quân sự. Có nhiều hội nghị quân sự anh Trường Chinh trực tiếp chủ trì với cương vị thay mặt Ban Chấp hành Trung ương lúc bấy giờ. Trong thời gian Ðảng ta chuẩn bị Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II, dưới sự chỉ đạo của Bác, anh Trường Chinh đã hoàn chỉnh lý luận về con đường cách mạng ở Việt Nam - con đường giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Như vậy, cống hiến của anh Trường Chinh rất lớn. Anh không những chú trọng mặt kháng chiến - mà theo tư tưởng chỉ đạo của Bác Hồ, anh đã hết sức chú trọng mặt kiến quốc. Anh Trường Chinh đã nhiều lần họp với Bác Hồ về vấn đề phát triển kinh tế. Lúc bấy giờ tôi ở trong Ðảng đoàn Chính phủ, tham dự nhiều cuộc họp do đồng chí Tổng Bí thư chủ trì nhằm thảo luận và đề ra những chính sách kinh tế. Lúc đó, Ðảng ta đã nói tới kinh tế nhiều thành phần, về vấn đề chống ngăn sông cấm chợ, đẩy mạnh thông thương. Ngay trong kháng chiến, Bác Hồ đã đặt vấn đề mở cửa với nước ngoài, hoan nghênh tư bản nước ngoài vào hoạt động. Bây giờ ta cũng đang tiếp tục làm như vậy. Ta nêu khẩu hiệu tự lực cánh sinh. Kháng chiến, càng ngày càng phát triển, ta có thêm Trung Quốc giúp sức, nhưng vẫn dựa vào sức mình là chính. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Ðảng và Bác Hồ, ta đã động viên được sức mạnh của toàn dân vào cuộc kháng chiến, mặc dù từ năm 1950 Mỹ đã tăng cường can thiệp vào chiến tranh Ðông Dương nhưng cuối cùng chúng ta đã đi đến chiến thắng vĩ đại ở Ðiện Biên Phủ. Sau thắng lợi đó, Bác Hồ nhận định: Ðây là thắng lợi to lớn nhưng mới chỉ là bước đầu, chúng ta còn phải tiếp tục cuộc chiến đấu. Người đã thấy rõ: đế quốc Mỹ chưa chịu thất bại. Anh Trường Chinh hoàn toàn nhất trí với nhận định đó của Bác. Khi anh Ba ra Hà Nội, anh nói: Ðiều mừng nhất là Ðảng ta khẳng định kẻ thù chính của ta lúc đó là đế quốc Mỹ.

Trong kháng chiến chống Mỹ, với cương vị là Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội rồi sau là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, anh Trường Chinh đã có công lao to lớn là góp phần vào việc soạn thảo và đưa ra những quyết sách chiến lược nhằm đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ đi tới thắng lợi hoàn toàn. Nói riêng về mặt quân sự, anh có những ý kiến đóng góp rất xuất sắc.

Ðiểm thứ ba, tôi muốn nói tới những cống hiến của anh Trường Chinh vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Sau khi đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta có những lúc xa rời tư tưởng Hồ Chí Minh, xa rời thực tiễn, do vậy đến những năm 1980, tình hình càng ngày càng khó khăn. Lúc đó, thực tiễn đặt ra yêu cầu phải đổi mới. Ở các địa phương bắt đầu có những tìm tòi thử nghiệm. Anh Trường Chinh đã theo dõi sát tình hình, đi vào thực tiễn, đi xuống cơ sở ở một số tỉnh phía nam. Trong một cuộc nói chuyện ở Hà Nội, anh Trường Chinh đã kết luận: Hiện nay, nhiều báo cáo không đúng sự thật, Ðảng ta phải cứu lấy giai cấp công nhân; muốn thế, nhất định phải đổi mới. Ðổi mới là yêu cầu bức thiết, đổi mới là vấn đề có tầm quan trọng sống còn. Anh nhấn mạnh: Nếu không đổi mới thì sẽ đi vào ngõ cụt.

Lúc đầu, ý kiến còn khác nhau. Cuộc đấu tranh trong nội bộ không phải là bình thường. Sau khi xem bản Dự thảo Báo cáo chính trị trình Ðại hội VI, anh Trường Chinh đã không tán thành và đề nghị dự thảo lại lần thứ hai. Căn cứ theo tình hình lúc bấy giờ, anh đi đến nhận định: Chúng ta đã phạm sai lầm nghiêm trọng trong lãnh đạo kinh tế, sai lầm về chỉ đạo chiến lược, về tổ chức thực hiện và chính sách cụ thể thôi. Vì vậy phải đổi mới, đổi mới toàn diện, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, phải chấp nhận nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần phục vụ cho chủ nghĩa xã hội. Ngày nay, chúng ta rất phấn khởi trước sự thành công của đổi mới.

Tôi thấy đây là một quan điểm rất sáng suốt, từ thực tiễn mà đúc kết ra. Anh Trường Chinh thường nói: Ta phải nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, phải từ thực tiễn khái quát thành lý luận. Từ đó, anh đề ra mấy bài học kinh nghiệm, trong đó có bài học "lấy dân làm gốc", phải "tôn trọng quy luật", hành động theo quy luật. Ðó chính là sự trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh, trở lại cách vận dụng tư tưởng Mác như Hồ Chí Minh đã vận dụng.

Tiếp đó, Ðại hội VII đã khẳng định: "Ðảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động". Sau này, anh Nguyễn Văn Linh có nói: Ðại hội VII của Ðảng đã tiến thêm một bước trong nhận thức và quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống.

Ðối với Cách mạng Tháng Tám, sự nghiệp kháng chiến, công cuộc đổi mới, đồng chí Trường chinh đã có những cống hiến lớn. Ðồng chí là một nhà lý luận có kiến thức toàn diện, không những coi trọng vấn đề lý luận và chính trị mà cả vấn đề kinh tế - văn hóa, coi trọng vấn đề xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất. Ðồng chí Trường chinh đã đưa ra Ðề cương Văn hóa Việt Nam nổi tiếng với nội dụng: dân tộc, khoa học và đại chúng. Ðề cương ấy đã có tác dụng lớn đối với sự phát triển của nền văn hóa cách mạng nước ta. Ðồng chí là một nhà văn, nhà báo lớn, một người đã viết nhiều về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, không phải đồng chí Trường Chinh không có những khuyết điểm và sai lầm. Là người trực tiếp chỉ đạo công tác cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, đồng chí đã nghiêm chỉnh tự phê bình về sai lầm nghiêm trọng của Ðảng và của bản thân, tự nguyện rút khỏi chức vụ Tổng Bí thư và đã góp ý kiến khách quan vào công tác sửa sai, giữ vững sự đoàn kết trong nội bộ Bộ Chính trị. Cũng như về sau, khi đã thấy khoán hộ là đúng đắn thì đồng chí đã công khai nhận sai lầm khi phê bình đồng chí Kim Ngọc và Tỉnh ủy Vĩnh Phú.

Nhìn chung lại, đồng chí Trường Chinh là một nhà lý luận nắm vững những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, luôn nắm vững quan điểm thực tiễn của chủ nghĩa duy vật biện chứng, từ thực tiễn mà tìm ra chân lý, góp phần xây dựng đường lối đúng đắn và sáng tạo của Ðảng. Ðồng chí là người có tinh thần chí công vô tư, luôn coi trọng chân lý, không hề chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa cá nhân, đoàn kết lãnh đạo, đoàn kết cán bộ, đoàn kết nhân dân. Ðồng chí là một người cộng sản mẫu mực, người cộng sản trong sáng nhất, học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, ba lần làm Tổng Bí thư, là một nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng nước ta.

Có thể bạn quan tâm