"Ðiện Biên Phủ trên không" nhìn từ phía bên kia

Cách đây 40 năm, bằng tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu đánh bại cuộc tập kích đường không của đế quốc Mỹ, lập nên kỳ tích "Ðiện Biên Phủ trên không". Sự kiện "Ðiện Biên Phủ trên không" đã làm chấn động nước Mỹ thời điểm lịch sử lúc bấy giờ. Hành động tội ác của chính quyền Ních-xơn bị nhân dân Mỹ yêu chuộng hòa bình phản đối kịch liệt. Những người Mỹ có lương tri đã lên tiếng vạch trần sự tráo trở, lật lọng của đế quốc Mỹ, tố cáo tội ác của chúng, đồng thời bày tỏ ủng hộ cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam.

Trở lại tình hình, sau bốn năm thực hiện Học thuyết Ních-xơn mà bước thực nghiệm đầu tiên là "Việt Nam hóa chiến tranh", đế quốc Mỹ không những không giành được một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược nào mà ngày càng lún sâu vào thế suy yếu và bị động. Ðặc biệt, trong hai năm 1971 - 1972, quân và dân ta liên tiếp giành những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, làm thay đổi hẳn cục diện chiến tranh ở miền nam và trên toàn chiến trường Ðông Dương, buộc Mỹ phải chấp nhận văn bản Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam do ta đưa ra đầu tháng 10-1972. Trong các thông điệp gửi Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Ních-xơn phải thừa nhận thiện chí của ta và cho rằng đó là phương án mà các bên có thể chấp nhận được. Ních-xơn khẳng định: "Hiệp định hiện nay đã coi như hoàn chỉnh. Có thể tin ở chúng tôi là sẽ ký tắt được vào ngày 31-10".

Như để chứng minh cho cam kết của mình, ngày 22-10-1972, Ních-xơn tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra. Hơn thế nữa, ngày 26-10-1972, trong một cuộc họp báo, đại diện Nhà trắng tuyên bố "hòa bình trong tầm tay".

Tuy nhiên, lãnh đạo Ðảng, Nhà nước ta đã vạch rõ âm mưu thâm độc của kẻ thù là: Với bản chất hiếu chiến, ngoan cố, đế quốc Mỹ còn nhiều thủ đoạn xảo quyệt, tàn bạo chống lại nhân dân Việt Nam. Do đó, tháng 11-1972, Bộ Chính trị T.Ư Ðảng đã ra Nghị quyết khẳng định, trong thời gian tới địch sẽ ít bị ràng buộc hơn về chính trị vì cuộc bầu cử Tổng thống ở Mỹ đã tiến hành xong, cho nên ta phải đề phòng Mỹ tăng cường hành động quân sự.

Quả đúng như vậy, ngày 14-12-1972, Ních-xơn chính thức phê chuẩn kế hoạch tập kích chiến lược bằng B52 vào Hà Nội, Hải Phòng với mật danh Lai-nơ - Bếch-cơ II. Ních-xơn khẳng định: "Bằng cuộc tập kích đường không chiến lược này, chúng ta sẽ bắt Hà Nội phải quỳ gối, sẽ đưa miền bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá". Nhận định về quyết định của Ních-xơn dùng B52 đánh vào Hà Nội, Hải Phòng, tờ Bưu điện Oa-sinh-tơn viết: "Những gì mà Giôn-xơn và các vị tiền bối của ông ta đã kiên quyết tránh trong 15 hoặc hơn 15 năm qua thì Ních-xơn đã quyết định trong vòng một đêm".

Ngày 18-12-1972, cuộc đánh phá của không quân Mỹ bắt đầu. Bình quân mỗi ngày đêm chúng huy động tới 60 đến 70 lần chiếc B52; 300 đến 400 lần chiếc máy bay chiến thuật, đỉnh cao là đêm 26-12-1972, chúng đã huy động tới 105 lần chiếc B52 và hàng trăm lần chiếc máy bay chiến thuật đánh phá Hà Nội. Bình luận về sự tàn phá do các đợt ném bom của Mỹ gây ra, Giô-dép A.Am-tơ, trong cuốn sách Lời phán quyết về Việt Nam chỉ rõ: "Từ ngày 18 đến ngày 30-12, Mỹ ném bom Hà Nội và Hải Phòng với sự tàn bạo hơn bao giờ hết trong lịch sử chiến tranh Việt Nam".

Sau 12 ngày đêm chiến đấu oanh liệt bằng tất cả lòng căm thù, sự dũng cảm, bộ đội phòng không - không quân, quân dân Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và quân dân toàn miền bắc đã bắn rơi 81 máy bay Mỹ, trong đó có 34 chiếc B52, 5 chiếc F111, diệt và bắt sống nhiều giặc lái Mỹ. Theo các tài liệu quân sự Mỹ, tỷ lệ máy bay rơi đạt kỷ lục cao nhất từ trước tới nay (25%), khiến các nhà quan sát quân sự Mỹ phải thú nhận: "Cứ cái đà mất máy bay, người lái này và nếu Mỹ còn tiếp tục ném bom thì chỉ đến ngày 28-4-1973 toàn bộ lực lượng không quân chiến lược Mỹ ở vùng Ðông - Nam Á sẽ hết nhẵn". Vì vậy, chính Ních-xơn phải thốt lên trong Hồi ký của mình: "Nỗi lo sợ của tôi trong những ngày này không phải là do những làn sóng phản đối và phê phán nghiêm khắc ở trong nước và trên thế giới, mà chính là ở mức độ tổn thất nặng nề về máy bay B52".

Nhớ lại thời điểm khi tiến hành cuộc hành binh Lai-nơ - Bếch-cơ II, Ních-xơn tin tưởng một cách chắc chắn rằng bầy quái vật của ông ta sẽ nuốt chửng Hà Nội, ngay một số báo chí Mỹ, lúc cuộc chiến mới bắt đầu cũng đã vội vã tung tin và phác họa thêm một bức tranh hãi hùng: "Hà Nội sẽ là một khu vực chết. Những ai may mắn còn lại sau trận bom hủy diệt đó thì đó là những kẻ sống sót". Thế nhưng, tin máy bay B52 bị bắn rơi, giặc lái bị diệt từ Việt Nam dội về Oa-sinh-tơn như cú sét giáng xuống Nhà trắng và Lầu năm góc khiến Ních-xơn choáng váng. Hội đồng tham mưu trưởng liên quân và Bộ chỉ huy không quân chiến lược Mỹ rụng rời. Kết quả rõ nhất mà Mỹ thu được sau cuộc tập kích là uy tín của Mỹ trên trường quốc tế bị giảm sút, thanh danh nước Mỹ bị bôi nhọ. Liên đoàn thế giới các nhà khoa học Mỹ cho rằng "các cuộc ném bom khủng bố kinh tởm xuống các vùng đông dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bôi nhọ thanh danh nước Mỹ". Tổng Bí thư Ðảng Cộng sản Mỹ G.Hôn nhận định: "Kết quả việc Mỹ ném bom trở lại miền bắc Việt Nam làm uy tín của Mỹ trên thế giới tụt xuống mức thấp chưa từng có". Còn ông Oét-đơn Ê-bờ-rao, Giáo sư lịch sử Viện Bách khoa Vớc-gi-ni-a Mỹ, trong cuốn sách Chiếc trực thăng cuối cùng kết thúc vai trò của Mỹ ở Việt Nam đã viết: "Trước mắt toàn nhân loại, hình ảnh của nước Mỹ thật là đen tối".

Sự thất bại của Mỹ là minh chứng về tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam. Cơn-oen, Tham mưu trưởng không lực Mỹ đưa ra lời thú nhận: "Lực lượng phòng không của bắc Việt Nam là lực lượng đáng sợ nhất và hoàn chỉnh nhất mà phi công Mỹ chưa bao giờ gặp phải". Còn Kít-xinh-giơ phải thừa nhận: "Không lực Hoa Kỳ đã vấp phải một hệ thống phòng không có hiệu lực nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới".

Hãng tin UPI của Mỹ ngày 31-12-1972 khẳng định: "12 ngày ném bom trở lại vùng Hà Nội, Hải Phòng được coi là cuộc ném bom dữ dội nhất trong lịch sử chiến tranh, đã làm cho Mỹ bị thiệt hại nặng nề nhất về người và trang bị". Thời báo Niu Oóc số ra ngày 20-12-1972 bình luận: "Tổng thống Mỹ lại một lần nữa quay về với sức mạnh thô bạo để tìm cách giành lấy những mục tiêu rộng lớn hơn của ông ta ở Ðông - Nam Á, những mục tiêu không bao giờ là hiện thực và cần thiết cho lợi ích an ninh của nước Mỹ. Giá như Hà Nội có chịu trách nhiệm đến đâu đi nữa về việc làm gián đoạn cuộc thương lượng - giả thuyết này là rất đáng nghi ngờ - thì việc sử dụng một lực lượng không quân hùng mạnh nhất để thẳng tay đánh một cách tàn bạo vào một nước nhỏ ở châu Á là một sự lạm dụng sức mạnh của nước Mỹ và là sự chà đạp lên những nguyên tắc của chủ nghĩa nhân đạo... Trong quá trình này, chính nước Mỹ đang đứng trước nguy cơ bị đẩy trở lại một thứ chế độ dã man của thời kỳ đồ đá, đó là điều có thể tiêu diệt những cái gì đáng giá nhất cần giữ gìn trong nền văn minh của Mỹ".

Ðã qua 40 năm, nhìn từ phía Mỹ trong cuộc tập kích chiến lược vào Hà Nội, Hải Phòng và một số nơi trên miền bắc nước ta thì đó là một sai lầm mà chính họ phải trả giá. Những nhận xét, đánh giá của các chính khách, học giả và cả sự thừa nhận của phía Mỹ đã minh chứng cho thất bại này. Trong cuốn sách Không còn những Việt Nam nữa, chính cựu Tổng thống Ních-xơn đã thừa nhận: "Thất bại ở Việt Nam là thảm họa lớn nhất đối với nước Mỹ. Từ nay không còn ai muốn có những (cuộc chiến tranh) Việt Nam nữa!".

LÊ VĂN PHONG

(Viện Lịch sử quân sự Việt Nam)

Có thể bạn quan tâm