Di vật của một tình yêu bất tử

Giữa hàng nghìn hồ sơ nhuốm màu thời gian tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV (phường Cam Ly-Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng), chúng tôi đã tìm thấy một di vật rớm máu và nước mắt: Bài thơ “Mình ơi hỡi” của liệt sĩ Võ Xuân Vinh.

Bài thơ “Mình ơi hỡi” của liệt sĩ Võ Xuân Vinh được cán bộ, nhân viên Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV bắt gặp trong tài liệu lưu trữ.
Bài thơ “Mình ơi hỡi” của liệt sĩ Võ Xuân Vinh được cán bộ, nhân viên Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV bắt gặp trong tài liệu lưu trữ.

Bài thơ như thước phim quay chậm, đưa chúng tôi ngược dòng thời gian, trở thành những người chứng kiến câu chuyện tình vĩ đại, một bi kịch anh hùng chìm khuất giữa núi rừng sâu thẳm.

Tháng 7 về, mang theo không khí tri ân thiêng liêng của ngày Thương binh-Liệt sĩ. Những ngày này, được tận tay lật giở những trang tài liệu nhuốm màu thời gian tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV, chúng tôi - những người làm công tác lưu trữ đều trào dâng niềm xúc động; nhất là khi bắt gặp bài thơ “Mình ơi hỡi” của liệt sĩ Võ Xuân Vinh, cùng những bức ảnh trắng đen lưu lại khoảnh khắc cuối cùng của người chiến sĩ kiên trung nằm giữa rừng già.

ndo_br_5.jpg
Phó Giám đốc Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV Trần Thị Minh cùng bộ hồ sơ có bài thơ “Mình ơi hỡi” và thông tin liệt sĩ Võ Xuân Vinh.

Theo những dòng chữ đánh máy phai mờ, đồng chí Võ Xuân Vinh, bí danh Ba Phát, sinh năm 1925 trong một gia đình phú nông tại thôn Mỹ Thuận, xã Hòa Đồng, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Thuở thiếu thời, ông đã hoàn thành chương trình sơ học yếu lược. Thế nhưng, gác lại cuộc sống êm đềm, ông quyết định dấn thân trọn vẹn vào con đường cách mạng. Khi Hiệp định Genève được ký kết, thay vì bước lên chuyến tàu cuối cùng rời cảng Quy Nhơn vào ngày 16/5/1955 để tập kết ra bắc, ông đã tuân thủ sự phân công của Đảng, nhận nhiệm vụ ở lại miền nam tiếp tục chèo lái phong trào.

ndo_br_1.jpg
Bức ảnh được tìm thấy trong hồ sơ lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV.

Những năm tháng ấy, cách mạng miền nam chìm trong thử thách khốc liệt. Sau khi đồng chí Lê Đài, Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên hy sinh và nhiều đồng chí khác bị địch bắt, đồng chí Võ Xuân Vinh, khi đó là Chánh Văn phòng Tỉnh ủy, cùng vài cán bộ nòng cốt phải gánh vác trọng trách chỉ đạo toàn diện tại khu vực Tuy Hòa.

Để tránh sự truy lùng gắt gao của địch, ông liên tục di chuyển qua các mật khu. Điểm dừng chân cuối cùng của người chiến sĩ kiên trung ấy là suối Hố Ngựa - một vùng suối sâu hoang vu, hiểm trở nằm lọt thỏm giữa các cụm núi rậm rạp, giáp ranh giữa xã An Thọ thuộc huyện Tuy An; xã Hòa Quang, Hòa Kiến thuộc huyện Tuy Hòa và xã Sơn Long thuộc huyện Sơn Hòa.

ndo_br_2.jpg
Bức ảnh được tìm thấy trong hồ sơ lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV.

Theo tài liệu lưu trữ, chính tại nơi thâm sơn này, một khúc bi tráng ca đã khép lại. Khoảng 19 giờ ngày 6/3/1958, một cuộc phục kích không cân sức đã diễn ra, khi 38 lính biệt kích địch bủa vây tổ công tác chỉ có khoảng 5 chiến sĩ cách mạng. Bất chấp thế trận chênh lệch, đồng chí Võ Xuân Vinh vẫn kiên cường bám trụ, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng và anh dũng ngã xuống vào sáng 7/3/1958. Kẻ địch lục lọi thi hài ông và thu giữ được một số tài liệu quan trọng, trong đó có bài thơ “Mình ơi hỡi” - những dòng tâm can cuối cùng ông cảm tác khi hay tin người vợ hiền ở quê nhà đã quyên sinh.

Tìm kiếm trong phông lưu trữ “Tòa đại biểu Chính phủ tại trung nguyên Trung phần, từ năm 1954-1969”, với hơn 3.500 hồ sơ, chúng tôi thấy bản đánh máy bài thơ “Mình ơi hỡi” được “sao y nguyên văn”, có đóng dấu đỏ, biểu tượng con dấu của Việt Nam cộng hòa.

ndo_br_3.jpg
Những bức ảnh được tìm thấy trong hồ sơ lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV.

Đọc từng câu chữ trong bài thơ, chúng tôi như nghe thấy tiếng nấc nghẹn ngào của người đàn ông kiên cường giữa rừng đêm. Đó không chỉ là dòng tâm tình tha thiết gửi người bạn đời, mà còn là bản cáo trạng đanh thép và chân thực nhất về nỗi đau của người phụ nữ Việt Nam thời chiến ở trong lòng địch.

Nơi quê nhà, vợ ông đã âm thầm tiễn chồng đi, một mình gánh vác gia đình, nuôi con thơ, chăm sóc cha mẹ già giữa làn mưa bom bão đạn. Địch truy bức bà gắt gao, tung tin đồn ác ý rằng chồng bà đã chết. Người vợ ấy bế con đi khắp nơi tìm chồng, vượt tuyến ra tận Bình Định nhưng bặt vô âm tín. Suốt ba năm dài “sống trong màu u tối”, bà chịu đựng đến bốn lượt cực hình tra tấn nhưng vẫn cắn răng chịu đựng, kiên quyết “không cho động đến mối tình đôi ta”.

ndo_br_4.jpg
Cán bộ, nhân viên Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV lần giở từng trang tài liệu lưu trữ phục vụ Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin, và đã bắt gặp bài thơ “Mình ơi hỡi” của liệt sĩ Võ Xuân Vinh.

Đê hèn hơn, kẻ thù dồn bà vào bước đường cùng khi ép bà "bỏ chồng lấy bọn lưu manh làm chồng" nhằm bôi nhọ danh dự của người chiến sĩ cách mạng. Trước sức ép tàn nhẫn ấy, người phụ nữ kiên trung đã dõng dạc khước từ bằng ý chí sắt đá: "Một không, ba, bảy cũng không/Đời em chỉ có một chồng mà thôi". Để bảo toàn khí tiết với cách mạng và trọn lòng thủy chung son sắt với chồng, bà đã gửi lại đứa con thơ rồi quyết định gieo mình xuống Ghềnh Ba tự vẫn.

Tin dữ truyền đến mật khu như một đòn "sét đánh" ngang tai, giáng xuống trái tim người lính kiên cường. Nỗi đau mất vợ vỡ òa thành những vần thơ rỏ máu: "Nỗi đau thương tan nát cả lòng tôi/Căm thù Mỹ D. phá đời chúng ta". Nước mắt của người cộng sản "trường giòng lệ nhỏ sa" trong đêm tối, cõi lòng đau đớn "càng nghĩ đến càng như dao cắt". Nhưng vượt lên trên nỗi bi kịch cá nhân tột cùng ấy, cái chết của người vợ hiền đã trở thành ngọn lửa thổi bùng ý chí của người lính, để rồi ông cũng mỉm cười đón nhận sự hy sinh, kiên quyết dâng hiến sinh mệnh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

ndo_br_7.jpg
Phó Giám đốc Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV Trần Thị Minh (bên phải) cùng cán bộ Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV trong kho lưu trữ di sản Mộc bản triều Nguyễn.

Khép lại những trang hồ sơ nhuốm màu thời gian, chúng tôi càng nhận thức sâu sắc hơn về giá trị vô giá của công tác lưu trữ. Những văn bản, bản thảo mỏng manh, ố vàng lặng im trong kho lưu trữ không đơn thuần là những mảnh giấy vô tri, mà chúng đang thực hiện một sứ mệnh cao cả: Lưu giữ lại những trang sử hào hùng của dân tộc. Mỗi trang tài liệu là những dòng sự kiện, dữ liệu lịch sử quý giá; đồng thời ẩn chứa trong đó là máu, nước mắt và số phận của những con người đã cống hiến trọn tuổi xuân cho một ngày đất nước nở hoa độc lập.

Bài thơ “Mình ơi hỡi” và cái chết lẫm liệt của vợ chồng liệt sĩ Võ Xuân Vinh mãi là một “tượng đài” nghệ thuật-lịch sử bất tử, thắp sáng thêm ngọn lửa tri ân trong lòng thế hệ hôm nay và mai sau.

ndo_c_bai-tho.jpg
Bài thơ “Mình ơi hỡi” của liệt sĩ Võ Xuân Vinh trong tài liệu được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV.

MÌNH ƠI HỠI !!

Tin đưa đến như bên tai sét đánh,

Biết rõ em đã tự vẫn chết rồi!!

Nỗi đau thương tan nát cả lòng tôi,

Căm thù Mỹ D. phá đời chúng ta.

Suốt đêm trường giòng lệ nhỏ sa,

Bao hình ảnh cũ hiện ra trước mắt.

Càng nghĩ đến càng như dao cắt.

Mình ơi! thôi vĩnh biệt từ đây !!!

Mười năm chẳng qua bao ngày sóng gió,

Dẫu đói nghèo chồng vợ vẫn vẹn tình.

Ta yên vui chung sống lúc xuân xanh,

Càng khăn khít khi mình sinh con trẻ.

Nhìn con thơ đẹp lòng ba mẹ,

Vuốt tóc con, em nói với anh rằng:

“Bé Mận nầy nọ rất giống anh,

Đời của Mận rất nhiều hy vọng”.

Rồi nhìn anh với tất cả tình nồng thắm,

Như nói lên hy vọng của lòng em.

Rồi mùa Đông năm ấy,

Em bồng con tiễn bước anh đi.

Siết chặt tay lệ ứa quanh mi,

Nhìn con căn dặn những lời tha thiết:

"Mong anh trung nước, nghĩa nhà,

Ruộng đồng con trẻ mẹ già có em”.

Sáu năm ròng bao phen gian khổ,

Tránh đạn bom lùng bố giặc Tây.

Nhưng không bê việc cấy cày,

Con thơ nuôi dạy từng ngày chăm lo.

Giặc phá đạp phá mùa lúa cháy.

Thiếu gạo cơm lo chạy sắn râu,

Cảnh nghèo túng trước thiếu sau,

Đói lòng nhưng chẳng hề đau nỗi lòng.

Biết bao nhiêu việc long đong,

Anh ôn nhắc lại tấm lòng càng đau.

Rồi một chiều thu 54

Tin mừng vui đình chiến Đông Dương

Anh về chung tiệc đoàn viên

Bế con có mẹ, cả em sum vầy,

Nhưng rồi anh phải ra đi,

Em buồn vui lẫn lộn quanh mi lệ trào,

Nắm tay em nói nghẹn ngào

Anh đi mạnh khoẻ, em về đấu tranh;

Cho mau thống nhất hoà bình.

Sẽ càng nồng thắm mối tình đôi ta

Bên bờ dòng nước sông Ba,

Em thề giữ vẹn tình ta suốt đời,

Chiếc đò người đã đông rồi

Đưa anh sang bến em ngồi trông theo

Cùng anh nhìn mãi đến chiều

Mặt trời im lặng còn kêu dặn dò;

Anh đi mạnh khoẻ đừng lo

Em dầu đến thác không cho dơ mình

Em vượt tuyến về Bình Định

Chẳng gặp anh lại gặp......

Tháng 10 giặc đến hoành hành

Có tin đồn địch đã giết anh chết rồi

Em lo lắng khổ đau buồn bực

Bồng con đi ra sức tìm anh

10 ngày bao nỗi khó khăn

Trốn quân Mỹ D. chó sẵn rình mò

Vượt giới tuyến tìm ra Bình Định

Chẳng gặp anh suýt bị phỉnh lừa

Quê người đất khách bơ vơ

Biết ai an ủi và nhờ cậy ai !!!

Thương chồng khóc suốt đêm dài

Nhưng mà ai đã đoái hoài cho chăng

Tính suy lòng dạ băn khoăn

Đi thời không được về không dám về

Nhưng đã thế lại biết xử thế

Dầu mất còn nào kẻ giúp mình

Bồng con trở lại gia đình

Bước đi từng bước tâm tình chứa chan

Quân Mỹ D. thật bầy lang sói

Bắt đánh tra cùm tro đủ đều

Vì chồng vì nước quyết chẳng xiêu

Dẫu cho đến thác cũng liều mình em

Xuân đến được tin anh còn sống

Muốn gặp nhau nhưng khó lắm rồi

Đành chờ thống nhất gặp nhau

Nay đi khó dễ! về sau tài nào!

Ba năm sống trong màu u tối

Chịu đánh tra 4 lượt cực hình

Khổ đau vẫn chịu riêng mình

Không cho động đến mối tình đôi ta.

Trọn nghĩa nước, vẹn đạo nhà

Quyết không để địch xoá nhoà lòng son

Bọn Mỹ D. vu oan cố hại

Đánh tra em buộc phải bắt anh

Nếu không, phải dứt mối tình

Bỏ chồng lấy bọn lưu manh làm chồng

Một không, ba, bảy cũng không

Đời em chỉ có một chồng mà thôi

Tâm thơ kể rõ khúc nôi

Gửi con để lại anh thời chăm lo

Mận là hy vọng của đôi ta

Anh ơi em chết ghềnh Ba.....

Có thể bạn quan tâm