Ðể vùng kinh tế trọng điểm phía nam phát triển bền vững

Vùng kinh tế năng động

Bảy tỉnh, thành phố tạo nên VKTTÐPN gồm TP Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Ðồng Nai, Bình Phước, Tây Ninh, Long An. Một vài số liệu sau chứng minh tác động tích cực của vùng trong sự nghiệp CNH, HÐH của cả nước. VKTTÐPN chiếm 6,55% diện tích, 15,58% số dân cả nước. Tỷ lệ dân đô thị lên tới 53% số dân, nhất là TP Hồ Chí Minh có 87% số dân sống ở đô thị và là thành phố đông dân nhất nước. VKTTÐPN thu hút 9/10 tổng số cơ sở công nghiệp, chiếm 70% kim ngạch xuất khẩu, đóng góp hơn 50% ngân sách và 40% GDP cả nước, với mức tăng trưởng GDP bình quân/người năm 2004 đạt gần 10 triệu đồng/năm, tăng 2,5 lần so với cả nước.

Ðiều dễ nhận thấy ở VKTTÐPN là cơ cấu kinh tế chuyển biến theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, dịch vụ, giảm mạnh tỷ trọng nông nghiệp. Thành tựu nổi bật nhất của VKTTÐPN là phát triển công nghiệp với 41 sản phẩm chủ lực, gồm dầu thô, sắt thép, xi-măng, hóa chất, dệt - may, thực phẩm chế biến, đồ uống... Ðây là vùng có thế mạnh về khai thác dầu thô, khí thiên nhiên, sản xuất phần mềm máy tính, chiếm hơn một nửa giá trị sản lượng cả nước về sản phẩm hóa chất, may-mặc, da giày, thuốc lá. Trong đó, TP Hồ Chí Minh là một trung tâm công nghiệp, dịch vụ, tài chính cùng ba trung tâm công nghiệp Bình Dương, Ðồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu liên kết thành mạng lớn các trung tâm công nghiệp, dịch vụ thương mại, tài chính, du lịch, có tác dụng điều hòa thị trường lao động, thúc đẩy quá trình CNH, HÐH và hội nhập kinh tế quốc tế cả khu vực phía nam. Toàn vùng hiện có 55 khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) với một số cụm công nghiệp chuyên ngành như KCN nặng tại Phú Mỹ (Bà Rịa - Vũng Tàu) các KCN dệt - nhuộm tại Nhơn Trạch, KCN AMATA Biên hòa II (Ðồng Nai), KCX Tân Thuận, Linh Trung I và II, KCN Việt Nam - Singapore, Sóng Thần I (Bình Dương). Các KCX và 55 KCN của vùng hoạt động khá hiệu quả, thu hút 1.219 dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn 9.342 triệu USD, chiếm 82% tổng vốn đầu tư nước ngoài (ÐTNN) vào các KCN cả nước, tạo việc làm cho 368 nghìn lao động. Ðây cũng là vùng thu hút đầu tư trong nước và ngoài nước sôi động, trong đó vốn đầu tư trong nước ngày càng có tỷ trọng lớn, với 752 dự án và 51.752 tỷ đồng.

Hiện nay VKTTÐPN có nhiều đô thị công nghiệp - dịch vụ sầm uất, hiện đại, như thị trấn An Lạc, Bình Chánh, Phú Xuân, Hóc Môn (TP Hồ Chí Minh); Phú Mỹ, Long Sơn, Long Hải (Bà Rịa - Vũng Tàu); Dĩ An, Lái Thiêu, Tân Phước Khánh (Bình Dương); Bến Lức, Ðức Hòa (Long An), Long Thành, Nhơn Trạch (Ðồng Nai)...

Nhìn về tương lai

Mục tiêu phát triển VKTTÐPN đến năm 2010 và 2020 theo tinh thần Nghị quyết Bộ Chính trị và Quyết định 146 của Thủ tướng Chính phủ là thúc đẩy tăng trưởng GDP bình quân hằng năm giai đoạn 2006-2010 đạt khoảng 1,2 lần, giai đoạn 2011-2020 đạt 1,1 lần tốc độ tăng trưởng bình quân cả nước. Hình thành các trung tâm dịch vụ sản xuất và xã hội chất lượng cao, đạt trình độ quốc tế và khu vực. Mới đây, trong cuộc làm việc với Ban điều phối phát triển VKTTÐPN do Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Tấn Dũng chủ trì, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố nêu nhiều vấn đề chung quanh việc làm gì để thúc đẩy VKTTÐPN phát triển nhanh và bền vững. Vì sao mật độ dân số vùng tăng quá cao, tới 472 người/km2, gấp hai lần mật độ dân số bình quân cả nước (tỷ lệ sinh ở Nhơn Trạch 3,3%: Bình Chánh, Thủ Ðức 3,4-3,7%), trong đó lao động nhập cư tăng nhanh, nhưng hạ tầng kỹ thuật và xã hội chưa đáp ứng được. Tại các khu vực có tăng trưởng nóng, như TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Ðồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, diễn ra tình trạng thiếu lao động kỹ thuật cao, số đông là lao động mùa vụ làm tăng nhanh khoảng cách giàu nghèo, đồng thời nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội. Mặt khác, VKTTÐPN chủ yếu dựa trên việc tăng trưởng là các đô thị kề cận TP Hồ Chí Minh và quốc lộ I, tạo nên sự phát triển không lành mạnh và làm ách tắc giao thông khi có sự cố.

Ðiểm hạn chế nhất của VKTTÐPN là sự phát triển chưa hợp lý giữa công nghiệp và nông nghiệp. Tuy được đánh giá là vùng có tăng trưởng công nghiệp cao nhất, song công nghệ của toàn ngành công nghiệp trên địa bàn chỉ mới có 30% thiết bị đạt trình độ tiên tiến, 50% trung bình và hơn 20% lạc hậu. Chuyển dịch cơ cấu nội bộ các ngành kinh tế còn chậm, dẫn đến sức cạnh tranh của hàng hóa thấp. Còn thiếu sự phối hợp giữa bảy tỉnh, thành phố trong các lĩnh vực công nghiệp, giao thông vận tải, xúc tiến thương mại, tài chính, tín dụng, ngân hàng; chưa có giải pháp đột phá trong xây dựng mô hình tổ chức và quản lý đô thị. Chưa hình thành các KCN mang tính động lực của vùng, như công nghiệp kỹ thuật cao, công nghiệp lọc và hóa dầu, công nghiệp cơ khí chế tạo (đóng tàu thuyền và các phương tiện giao thông). Cũng chưa hình thành được các khu công nghệ - khoa học để thu hút chất xám trong chu trình nghiên cứu - thực nghiệm - triển khai. Hiệu quả việc sử dụng tài nguyên chưa cao, môi trường đang bị suy thoái. Trong nông nghiệp, chưa gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ; thị trường tiêu thụ bấp bênh, trong đó việc dự đoán giá cả thị trường còn quá yếu...

Ðể VKTTÐPN phát triển nhanh và bền vững, các địa phương trong vùng cần đẩy nhanh việc đổi mới công nghệ, phấn đấu đạt bình quân 20-25% năm trong tiến trình hiện đại hóa, nâng dần tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2010 đạt hơn 50%. Ðầu tư phát triển cơ khí ở TP Hồ Chí Minh, Ðồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, đồng thời tích cực hỗ trợ các địa phương và vùng lân cận trong việc hợp tác sản xuất, đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao và áp dụng công nghệ mới..., nhất là với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên. Trong đó, TP Hồ Chí Minh đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng, đồng thời sớm hình thành thị trường vốn, tiền tệ, huy động vốn qua thị trường chứng khoán, phát hành cổ phiếu, bảo đảm nhu cầu phát triển của thành phố, của vùng và cả nước. Theo đó, cần ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, hiện đại, sớm di dời các cảng biển nằm sâu trong đất liền ra khu vực Cái Mép, Thị Vải; xây dựng tuyến đường sắt xuyên Á, đường sắt đi Vũng Tàu, Cần Thơ. Phát triển mạng lưới tàu điện ngầm tới Củ Chi, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Vũng Tàu, Nhơn Trạch, Mỹ Tho, Tân An, Long Thành... Xây dựng các tuyến đường cao tốc từ trung tâm TP Hồ Chí Minh đi các vùng khác... quy hoạch một số tuyến tàu điện ngầm xây dựng tuyến vành đai 1 và 2 của TP Hồ Chí Minh. Sử dụng hợp lý tài nguyên trong quá trình đô thị hóa theo hướng tiết kiệm, hiệu quả. Có biện pháp bảo vệ rừng đầu nguồn để duy trì mức cao lượng nước tại các hồ, đập, sông suối. Xây dựng một số nhà máy nước công suất lớn đáp ứng nhu cầu dân sinh và sản xuất, như các nhà máy nước Thiên Tân, Biên Hòa,... Ðẩy nhanh chương trình xây dựng hệ thống thu gom và xử lý chất thải lỏng tại các KCN, các khu đô thị và các khu dân cư tập trung. Hạn chế việc thành lập các KCN mới tại khu vực TP Hồ Chí Minh, Biên Hòa và Bà Rịa - Vũng Tàu. Ðến năm 2010, hoàn thành cơ bản hệ thống KCN với 55 khu (12.826 ha) trong đó đầu tư phát triển đồng bộ KCN gắn liền với tổ hợp khí - điện - đạm trên địa bàn Bà Rịa - Vũng Tàu và tỉnh Ðồng Nai, phát triển KCN công nghệ cao tại TP Hồ Chí Minh theo hướng hình thành "Công viên công nghệ",...

Ðể kinh tế VKTTÐPN phát triển bền vững, cần có quy chế phối hợp chính sách quy hoạch vùng tổng thể giữa bảy tỉnh, thành phố nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh hơn, tạo ra nhiều sản phẩm chủ lực đủ sức cạnh tranh với hàng hóa của các nước khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế.

Có thể bạn quan tâm