Ðể chăn nuôi lợn trang trại tiếp tục phát triển


Từ thực trạng...

Theo số liệu thống kê sơ bộ, hiện nay cả nước có khoảng 3.500 trại chăn nuôi lợn nái ngoại từ 20 con trở lên. Trong đó có 1.127 trang trại với quy mô hơn 100 nái, chiếm tỷ lệ 23,66%; 501 trang trại có quy mô 51-100 nái, chiếm 10,52%; số còn lại là các trang trại có quy mô từ 21-50 con và dưới 20 con, chiếm hơn 65%. Do điều kiện đất đai, khí hậu và khả năng đầu tư, nên sự phân bố các trang trại chăn nuôi tại tám vùng sinh thái cũng khác nhau cả về số lượng và quy mô. Ba vùng có số lượng trang trại chăn nuôi lợn lớn nhất cả nước là Ðông Nam Bộ (ÐNB), đồng bằng sông Hồng (ÐBSH) và đồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL), với tỷ lệ tương ứng là 47,60%; 26,32% và 15,70%. Vùng Ðông Nam Bộ không những có số lượng trang trại nhiều nhất, mà quy mô chăn nuôi cũng lớn nhất. Tại đây, số lượng trang trại có quy mô từ 50 đến 100 con, chiếm tỷ lệ tương ứng là 60% và 38%; còn số trang trại nuôi 20 nái trở xuống chỉ chiếm 0,62%. ÐBSCL là khu vực thứ hai sau Ðông Nam Bộ có số lượng trang trại với quy mô lớn. Số trang trại có quy mô hơn 100  nái chiếm 27,27% tổng số trang trại của cả khu vực này. Vùng ÐBSH mặc dù có số lượng trang trại tương đối lớn, song quy mô nuôi phổ biến dưới 20 nái, chiếm 71,32% số trang trại; 23,52% số trại có quy mô từ 20-50 nái; một số ít (khoảng 5,20%) có quy mô từ 5 đến 100 nái trở lên. Các khu vực còn lại như tây bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ không những có số lượng trang trại chưa nhiều, mà cả quy mô chăn nuôi cũng chưa lớn, chủ yếu nuôi 20-50 nái/trại.

Sự hình thành và phát triển chăn nuôi lợn trang trại là bước đột phá về phương thức chăn nuôi, chuyển đổi từ chăn nuôi phân tán, manh mún trong gia đình thành chăn nuôi tập trung, công nghiệp với khối lượng hàng hóa lớn. Phương thức chăn nuôi trang trại đã nâng cao năng suất chăn nuôi; chất lượng sản phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm được cải thiện; thời gian chăn nuôi rút ngắn; vòng quay đồng vốn nhanh hơn, đồng thời góp phần giải quyết một phần vấn đề ô nhiễm môi trường do chăn nuôi phân tán trong các hộ gia đình ở nông thôn gây ra.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được, chăn nuôi lợn trang trại vẫn còn một số khó khăn như sự hình thành trang trại còn mang tính tự phát, thiếu quy hoạch; diện tích trang trại và quy mô chăn nuôi còn nhỏ, phổ biến ở mức dưới 0,5 ha (chiếm từ 65-70% tổng số trang trại, số trang trại có diện tích trên một ha chỉ chiếm từ 10 đến 15%; năng suất chăn nuôi vẫn chưa phát huy hết tiềm năng của giống, bình quân một con lợn nái chỉ sản xuất 700-750 kg thịt/con/năm; giá thành sản phẩm còn cao, bình quân 12 - 13 nghìn đồng/kg thịt hơi; thiếu vốn để mở rộng quy mô và nâng cấp thiết bị, trung bình vốn đầu tư cho một trang trại từ 100 đến 200 triệu đồng; công tác thú y còn nhiều bất cập và dịch bệnh vẫn còn xảy ra trong các trang trại; chất lượng sản phẩm chưa ổn định, tỷ lệ nạc trong thịt xẻ chỉ mới đạt 50-55%, đồng thời tiêu thụ sản phẩm vẫn còn gặp trắc trở do thiếu gắn kết giữa trang trại chăn nuôi và các cơ sở giết mổ, chế biến. Có thể nói, chất lượng thịt, giá cả và vệ sinh an toàn thực phẩm đang là những vấn đề thách thức đối với ngành hàng thịt lợn của Việt Nam.

... đến các giải pháp

Ðể chăn nuôi lợn trang trại tiếp tục phát triển và có hiệu quả, cần có những giải pháp đồng bộ. Thứ nhất, quy hoạch đất cho trang trại chăn nuôi lợn. Từ quy hoạch phát triển tổng thể nông nghiệp, các địa phương cần quy hoạch những vùng đất trống, đất hoang hóa, đất canh tác không hiệu quả có thể sử dụng phát triển chăn nuôi lợn trang trại, bảo đảm an toàn dịch bệnh và bảo vệ môi trường. Trong quá trình giao đất, phải thực hiện tốt chính sách cho từng trường hợp cụ thể. Ở những vùng đất ít người có khả năng khai phá, thì có thể giao đất theo khả năng người nhận để khuyến khích những người có vốn đầu tư lập trang trại chăn nuôi lợn. Trường hợp có nhiều người xin lập trang trại thì căn cứ quy hoạch và quỹ đất cụ thể của địa phương để tính toán mức giao khoán hoặc cho thuê đất phù hợp. Ðối với những vùng có điều kiện khai thác đất thuận lợi, đem lại hiệu quả lớn, nhưng quỹ đất hạn chế thì cần tổ chức đấu thầu công khai, bảo đảm dân chủ khách quan. Gắn quy hoạch các vùng chăn nuôi tập trung với xây dựng kết cấu cơ sở hạ tầng, nhất là hệ thống thủy lợi, giao thông, điện nước, xử lý chất thải, bảo vệ môi trường.

Thứ hai, quy hoạch các vùng chăn nuôi lợn chất lượng cao phù hợp với nhu cầu riêng của từng thị trường trong nước và ngoài nước. Ðã đến lúc cần xác định rõ và khuyến cáo các trang trại sản xuất ra sản phẩm thịt lợn đáp ứng nhu cầu của thị trường cụ thể. Từ đó có hướng chỉ đạo các chủ trang trại lựa chọn các yếu tố đầu vào như con giống, thức ăn, vệ sinh thú y và các yếu tố đầu ra như chế biến, giết mổ, bảo quản, vận chuyển đáp ứng được những đòi hỏi khắt khe của thị trường đã lựa chọn.

Thứ ba,  quy hoạch vùng sản xuất và cung ứng giống, thức ăn cho từng loại sản phẩm đặc thù. Chất lượng thịt phụ thuộc nhiều vào chất lượng giống, thức ăn chăn nuôi. Cùng loại con giống nhưng chất lượng thức ăn khác nhau sẽ cho sản phẩm khác nhau. Vì vậy, các địa phương cần đầu tư các cơ sở sản xuất giống lợn có chất lượng đáp ứng nhu cầu của thị trường đã lựa chọn.

Thứ tư,  thực hiện miễn giảm thuế sử dụng đất trong hạn điền đến năm 2010 đối với hộ nông dân. Các chủ trang trại được miễn giảm thuế thu nhập với thời gian tối đa theo Nghị định 51/1999/NÐ-CP ngày 8-7-1999 của Chính phủ. Chỉ áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hộ kinh tế đã sản xuất kinh doanh ổn định, có giá trị hàng hóa và có lãi lớn. Tạo mọi điều kiện thuận lợi để các chủ trang trại dễ dàng tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Hướng dẫn thực hiện tốt Quyết định số 423/2000/QÐ-NHNN ngày 22-9-2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về chính sách tín dụng ngân hàng đối với kinh tế trang trại.

Thứ năm,  cần tập trung xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh cho các trang trại chăn nuôi lợn xuất khẩu. Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ tiêm phòng miễn phí một số bệnh nguy hiểm cho đàn lợn ngoại tại các trang trại. Hỗ trợ các cơ sở giết mổ, chế biến xây dựng tiêu chuẩn HASSA để từng bước quốc tế hóa tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm thịt nhằm đẩy mạnh xuất khẩu. Rà soát và xây dựng mới các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, tạo cơ sở pháp lý để hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc các tiêu chuẩn đã ban hành. Trên cơ sở quy hoạch vùng sản xuất thịt chất lượng cao theo nhu cầu của một số thị trường quốc tế, cần tập trung chỉ đạo các cơ sở giết mổ, chế biến thịt ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm.

Thứ sáu, về tổ chức sản xuất: cần tiếp tục khuyến khích thành lập các hiệp hội chăn nuôi lợn trang trại, HTX tiêu thụ sản phẩm. Tạo mọi điều kiện thuận lợi để các tổ chức này tiếp cận dễ dàng các nguồn vốn và thị trường tiêu thụ sản phẩm trong nước và ngoài nước, phát huy vai trò đối với các trang trại thành viên. Củng cố và phát triển các hình thức liên kết chăn nuôi, chế biến giữa doanh nghiệp và trang trại, gia trại. Khuyến khích hình thức chăn nuôi gia công hoặc chăn nuôi theo hợp đồng giữa các chủ trang trại có điều kiện về vốn, về khả năng bao tiêu sản phẩm với các gia trại, trang trại chăn nuôi nhỏ hơn.

Có thể bạn quan tâm