Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai được xác định là một trong những nền tảng quan trọng của chuyển đổi số quốc gia. Không chỉ phục vụ quản lý nhà nước, hệ thống dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung” còn hướng tới mục tiêu cắt giảm thủ tục hành chính, minh bạch thông tin, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người dân và doanh nghiệp.
Ngày 29/3/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Công an ban hành Kế hoạch số 2959/KH-BNNMT-BCA về việc đẩy mạnh công tác đo đạc, lập bản đồ, hồ sơ địa chính và hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Nhiệm vụ đặt ra là số hóa hồ sơ sẵn có, đồng thời rà soát, làm sạch toàn bộ dữ liệu đã xây dựng qua các thời kỳ; đo đạc, lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và tạo lập dữ liệu đối với các khu vực còn thiếu.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cơ sở dữ liệu đất đai phải đáp ứng tiêu chí “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”; được vận hành, cập nhật theo thời gian thực; kết nối, chia sẻ hiệu quả với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các hệ thống thông tin liên quan. Cùng với đó là yêu cầu đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai, hướng tới 100% thủ tục đủ điều kiện được thực hiện trực tuyến toàn trình.
Đến nay, cả nước đã xây dựng dữ liệu cho hơn 64,42 triệu thửa đất trên tổng số hơn 102,46 triệu thửa đất cần thực hiện, đạt khoảng 63%. Trong số này, khoảng 28,77 triệu thửa đất đã được làm sạch theo tiêu chí “đúng - đủ - sạch - sống”, chiếm 45% số dữ liệu đã xây dựng, đủ điều kiện đưa vào vận hành theo thời gian thực phục vụ công tác quản lý đất đai và phát triển kinh tế-xã hội. Các cơ quan chức năng tổ chức đối khớp, xác thực khoảng 87,39 triệu lượt dữ liệu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Ông Mai Văn Phấn, Phó Cục trưởng Quản lý đất đai cho biết, điểm mới của cách làm lần này là yêu cầu dữ liệu sau khi được làm sạch phải đưa ngay vào vận hành, khai thác, phục vụ giải quyết thủ tục hành chính. Trên cơ sở khối lượng còn lại, kế hoạch phân kỳ rõ phần việc phải hoàn thành trong từng giai đoạn, giúp các địa phương chủ động bố trí nhân lực, kinh phí, lựa chọn đơn vị thực hiện và kiểm soát tiến độ. Cách làm này nhằm khắc phục tình trạng giao mục tiêu chung nhưng thiếu mốc kiểm soát trung gian. Khi có kế hoạch theo tháng, các bộ, ngành có căn cứ để đôn đốc, kiểm tra; địa phương có cơ sở để phân công nhiệm vụ cho từng sở, ngành, cấp xã, văn phòng đăng ký đất đai và các đơn vị liên quan.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc triển khai được thực hiện theo nguyên tắc “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền”. Bộ sẽ phối hợp Bộ Công an và các bộ, ngành liên quan hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra quá trình triển khai. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện tại địa phương, bảo đảm tiến độ, chất lượng và hiệu quả.
Dù đã đạt nhiều kết quả tích cực, quá trình triển khai vẫn còn không ít khó khăn. Hiện vẫn còn khoảng 35,6 triệu dữ liệu thửa đất chưa đạt chuẩn “đúng -
đủ - sạch - sống”. Nguyên nhân chủ yếu do dữ liệu được xây dựng qua nhiều giai đoạn, chưa cập nhật theo tiêu chuẩn kỹ thuật mới, thiếu thông tin người sử dụng đất hoặc chưa phản ánh đầy đủ các biến động về quyền sử dụng đất. Đáng chú ý, cả nước vẫn còn 38,1 triệu thửa đất chưa có dữ liệu, chiếm 37% tổng số thửa đất. Quá trình đồng bộ dữ liệu từ địa phương lên hệ thống quốc gia cũng gặp nhiều khó khăn kỹ thuật. Nhiều địa phương phải thực hiện đồng bộ nhiều lần do dữ liệu chưa đạt chuẩn, trong khi việc truyền dữ liệu đồng thời gây quá tải hệ thống. Mặc dù đã có 28,8 triệu thửa đất đạt chuẩn dữ liệu sống, đến nay mới chỉ có 1,06 triệu dữ liệu được đồng bộ lên Trung tâm dữ liệu quốc gia.
Theo Thứ trưởng Bộ Công an Nguyễn Văn Long, việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia là nhiệm vụ đặc biệt lớn, có ý nghĩa quan trọng. Đến nay, Bộ Công an đã tiếp nhận hơn 11 triệu thửa đất, bước đầu hình thành nền tảng dữ liệu phục vụ quản lý đất đai. Tuy nhiên, trong số hơn 11 triệu thửa đất được chuyển sang, có tới 5,3 triệu thửa còn sai lệch thông tin. Do đó, thách thức không chỉ nằm ở tiến độ xây dựng dữ liệu mà còn ở chất lượng và khả năng khai thác thực tế. Dữ liệu đất đai phải phục vụ hiệu quả cho người dân và doanh nghiệp, không để xảy ra tình trạng người dân tiếp tục phải cung cấp lại những thông tin mà cơ quan nhà nước đã có.
Thực tế tại địa phương cho thấy, khối lượng công việc còn rất lớn. Tại Đà Nẵng, thành phố dự kiến hoàn thành cơ sở dữ liệu đối với 29 xã, phường đã có dữ liệu và hoàn thành đối với 42 xã, phường còn lại trong tháng 10/2026. Đại diện địa phương cho biết, khó khăn lớn nhất là áp lực thời gian, khối lượng đo đạc lớn, quy trình đấu thầu và bố trí nguồn lực phải tuân thủ quy định pháp luật trong khi yêu cầu tiến độ rất gấp.
Không chỉ Đà Nẵng, nhiều địa phương cũng đang đứng trước thách thức tương tự: Dữ liệu đất đai được hình thành qua nhiều thời kỳ, thiếu đồng bộ giữa bản đồ, hồ sơ giấy, giấy chứng nhận và thông tin thực tế sử dụng đất; có nơi còn “trắng” dữ liệu, có nơi dữ liệu đã số hóa nhưng chưa đủ chính xác để đưa vào giải quyết thủ tục hành chính. Trong bối cảnh đó, vai trò của cấp xã, văn phòng đăng ký đất đai, công an cơ sở và sự phối hợp của người dân có ý nghĩa quyết định. Việc huy động người dân cung cấp, xác nhận thông tin qua VNeID, đối khớp với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư sẽ giúp rút ngắn thời gian thu thập, kiểm tra, chuẩn hóa dữ liệu.
Tại cuộc họp đánh giá việc thực hiện kế hoạch mới đây, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh: Không lùi mục tiêu hoàn thành cơ sở dữ liệu đất đai trong năm 2026, không hạ chuẩn chất lượng dữ liệu, không để dữ liệu được tạo lập nhưng không khai thác được. Dữ liệu hoàn thành đến đâu phải đưa vào sử dụng đến đó để phục vụ người dân, doanh nghiệp và công tác quản lý nhà nước. Đối với địa phương, chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố phải trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra, tháo gỡ vướng mắc, không chờ đợi, đùn đẩy trách nhiệm.