Đặt mục tiêu tăng trung bình 2% tổng tỷ suất sinh trên toàn quốc mỗi năm

Việc tăng tỷ lệ sinh để đạt và duy trì mức sinh thay thế trên toàn quốc đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực, góp phần thực hiện thành công Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.

Thực hiện Quyết định số 291/QĐ-TTg ngày 13/2/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Bảo đảm mức sinh thay thế trên toàn quốc đến năm 2030, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định 1069/QĐ-BYT, đặt ra yêu cầu tăng tổng tỷ suất sinh trung bình 2% mỗi năm trên toàn quốc.

Theo Bộ Y tế, hiện trên phạm vi toàn quốc, mức sinh xuống thấp dưới mức sinh thay thế, giảm từ 2,11 con/phụ nữ (2021) xuống 1,91 con/phụ nữ (2024) và 1,93 con/phụ nữ (2025), không đạt mục tiêu duy trì vững chắc mức sinh thay thế trên toàn quốc giai đoạn 2020-2025.

Kết quả đánh giá các mục tiêu Chương trình Điều chỉnh mức sinh cho
thấy, xu hướng giảm sinh đang diễn ra trên phạm vi rộng cả ở nơi có mức sinh
cao cũng như nơi có mức sinh thấp. Dự báo đến năm 2030 khó đảm bảo mục tiêu
duy trì mức sinh thay thế trên toàn quốc.

Quyết định 1069/QĐ-BYT đặt mục tiêu tăng trung bình 2% tổng tỷ suất sinh trên toàn quốc mỗi năm; trên 95% các cặp vợ chồng, nam, nữ trong độ tuổi sinh đẻ được cung cấp thông tin về kết hôn, sinh con để đạt và duy trì mức sinh thay thế trên toàn quốc; 100% tỉnh, thành phố thực hiện các chính sách hỗ trợ các cặp vợ chồng, cá nhân sinh con, nuôi con.

Để đạt mục tiêu này, Việt Nam cần triển khai đồng bộ các biện pháp hỗ trợ dân số, phù hợp với bối cảnh kinh tế-xã hội hiện nay, nhằm bảo đảm phát triển bền vững và giảm thiểu những tác động tiêu cực của việc giảm sinh và già hóa dân số.

Theo chương trình, Bộ Y tế đề nghị đổi mới toàn diện nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục về dân số, sức khỏe sinh sản trong và ngoài nhà trường phù hợp với từng cấp học, lứa tuổi trong hệ thống giáo dục.

Mục tiêu của giáo dục dân số, sức khỏe sinh sản phải bảo đảm trang bị cho người học các kiến thức, kỹ năng cơ bản, có hệ thống về cấu tạo, cơ chế hoạt động của các cơ quan sinh sản ở người, chăm sóc sức khỏe sinh sản; phòng tránh mang thai ngoài ý muốn, vô sinh và các bệnh lây truyền qua đường tình dục; định hình giá trị của việc kết hôn, sinh con vì lợi ích gia đình và tương lai bền vững của đất nước.

Trong đó, thí điểm và từng bước mở rộng triển khai chương trình giáo dục dân số,
sức khỏe sinh sản trong và ngoài nhà trường trong tình hình mới.

Rà soát, đề xuất sửa đổi các quy định không phù hợp với mục tiêu đạt và
duy trì vững chắc mức sinh thay thế, đặc biệt là các quy định xử lý vi phạm chính
sách dân số hiện hành. Đề xuất ban hành quy định về việc đề cao tính tiên phong,
gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên trong việc sinh con, nuôi dạy con tốt, xây
dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc để đạt và duy trì mức sinh thay thế.

Căn cứ điều kiện kinh tế-xã hội và khả năng cân đối ngân sách nhà nước, các tỉnh, thành phố có chính sách hỗ trợ cặp vợ chồng, cá nhân sinh con, nuôi con nhằm đạt và duy trì mức sinh thay thế bền vững; ưu tiên đối với tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế, dân tộc thiểu số rất ít người.

Thực hiện các chính sách khuyến khích sinh con áp dụng cho các gia đình, cộng đồng, ưu tiên và chú trọng đối với địa bàn có mức sinh dưới mức sinh thay thế, dân tộc thiểu số rất ít người: Tiếp tục rà soát, bãi bỏ các quy định của các tổ chức, cơ quan, đơn vị, cộng đồng liên quan đến mục tiêu giảm sinh, tiêu chí giảm sinh con thứ 3 trở lên,…; sửa đổi, bổ sung các chính sách khuyến khích sinh con áp dụng cho gia đình, cộng đồng.

Thực hiện các chính sách hỗ trợ các cặp vợ chồng, cá nhân sinh con, nuôi
dạy con tốt; đồng thời có chính sách khuyến khích không kết hôn muộn không
sinh con muộn và không sinh ít con.

Nghiên cứu đánh giá tác động của chính sách lao động, việc làm, nhà ở,
phúc lợi xã hội, giáo dục, y tế … đến quyết định sinh con, sinh ít con; kết hôn
muộn và không kết hôn; sửa đổi, bổ sung các chính sách hỗ trợ cặp vợ chồng, cá
nhân sinh con, nuôi dạy con tốt; khuyến khích nam - nữ thanh niên không kết hôn muộn.

Thí điểm, triển khai mở rộng các biện pháp hỗ trợ các cặp vợ chồng sinh
con, sinh đủ hai con, phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi. Trên cơ sở sơ kết,
đánh giá các biện pháp thí điểm hỗ trợ, ban hành các chính sách hỗ trợ phù hợp.

Một số nội dung, khuyến khích hỗ trợ như sau: Hỗ trợ tư vấn, cung cấp dịch vụ
hôn nhân và gia đình: Phát triển câu lạc bộ kết bạn trăm năm, hỗ trợ nam, nữ
thanh niên kết bạn; khuyến khích nam, nữ kết hôn trước 30 tuổi, không kết hôn
muộn và sớm sinh con; xây dựng môi trường, cộng đồng phù hợp với các gia
đình nuôi con nhỏ; các dịch vụ thân thiện với người lao động như đưa, đón trẻ,
trông trẻ, ngân hàng sữa mẹ, bác sĩ gia đình,...

Căn cứ quy hoạch chung, bố trí địa điểm xây dựng các điểm trông, giữ trẻ, nhà mẫu giáo phù hợp với điều kiện của bà mẹ, nhất là các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu đô thị; hỗ trợ phụ nữ khi mang thai, sinh con và sinh đủ hai con: Tạo điều kiện trở lại nơi làm việc cho phụ nữ sau khi sinh con; miễn giảm các khoản đóng góp công ích theo hộ gia đình; hỗ trợ, khuyến khích các cặp vợ chồng sinh đủ hai con: ưu tiên vào các trường công lập, hỗ trợ chi phí giáo dục trẻ em.

Theo Bộ Y tế, phấn đấu đạt và duy trì mức sinh thay thế trên toàn quốc vào năm 2030 và tiếp tục duy trì trong những năm tiếp theo góp phần đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực ổn định, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững đất nước, mang lại hiệu quả kinh tế-xã hội rất cao.

Khuyến khích các cá nhân, cặp vợ chồng sinh con và sinh đủ hai con, bảo đảm mức sinh thay thế trên phạm vi cả nước; tránh già hoá dân số nhanh, giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh để có nguồn nhân lực phát triển đất nước bền vững.

Có thể bạn quan tâm