Người đảng viên công giáo
Ông Ðỗ Văn Chiến thuộc giáo họ Thánh Giu-se, giáo xứ Liên Phú (Hải Ðông, Hải Hậu, Nam Ðịnh). Ông sinh ra trong một gia đình công giáo có truyền thống cách mạng. Những năm đất nước chiến tranh, nhà ông từng là nơi bố ông cất giấu cán bộ cách mạng. Ngày 17-7-1966 ông lên đường nhập ngũ ở tuổi 20, lúc này vợ ông cũng đang mang thai đứa con đầu lòng sắp đến ngày ở cữ.
Ngày vợ sinh con gái đầu lòng cũng là ngày ông tốt nghiệp khóa lái xe rồi được điều thẳng sang nước bạn Lào làm công tác vận chuyển quân lương vào giải phóng miền nam. Trong chiến trường, đồng đội biết ông là người công giáo nên thường thắc mắc khi thấy ông ăn cơm mà không làm "dấu thánh". Ông đã trả lời rằng: Chúa ở trong tâm con người. Ðỗ Văn Chiến đã trải qua những mùa mưa, mùa khô Trường Sơn gian khổ. Sốt rét hơn 40 độ vẫn phải gắng vượt lên. Bây giờ, bạn bè vẫn gọi ông bằng cái biệt danh thú vị "hiện vật sống".
Ông nhớ lại, năm 1983 ở khách sạn Bạch Ðằng trong kỳ họp trù bị thành lập Ủy ban đoàn kết Công giáo Việt Nam, một vị linh mục đã hỏi ông: "Anh là sĩ quan quân đội, là Anh hùng LLVT nhân dân, chắc chắn anh là đảng viên, vậy là anh có bỏ đạo không?". Người Anh hùng kinh qua bom đạn đã trả lời vị linh mục rằng: "Thưa cha, luật pháp nước Việt Nam không hề có điều luật ấy!".
Ðất nước hòa bình, hằng tuần ông vẫn đi lễ nhà thờ, bình tâm bước vào thánh đường, nghe tiếng chuông, tiếng kinh cầu dưới chân tượng Chúa. Ông luôn quan niệm Ðạo ở tại tâm, mỗi công dân phải sống sao cho tốt đời đẹp đạo.
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng
Gặp người anh hùng năm xưa, tôi vẫn cảm nhận được khí chất dũng mãnh của ông toát ra từ cử chỉ, lời nói. Nó khiến người đối diện sống lại với những hình dung về ông cùng một thời uy dũng mà báo chí trong và ngoài nước vẫn đưa tin: "Người chiến sĩ Công giáo Ðỗ Văn Chiến hoàn thành nhiệm vụ lên đến 300%". Ngày ấy, chỉ tiêu đơn vị giao cho một người chiến sĩ vận tải là ba đêm vận chuyển một chuyến hàng nhưng ông Ðỗ Văn Chiến đã thực hiện ba đêm ba chuyến và nhiều lần dũng cảm cứu cả đoàn xe chở hàng thoát khỏi đạn bom của địch...
Ông bồi hồi nhớ lại kỷ niệm với chiếc xe Zil ba cầu trong một chuyến đi đêm chở gạo vào trạm 2, xuất phát từ trạm 31 Cổng trời, sau khi vượt qua chặng đường 120 km, hôm sau lại vào trả xe, suốt chặng đường đi bị đánh tọa độ trúng đầu xe. Lúc nào ông cũng sẵn sàng cờ-lê, mỏ-lết sửa chữa cho xe mình và xe đồng đội. Xe Zil chủ yếu gặp sự cố ở bộ phận "đầu bò" tức là trục khuỷu hay bị trật giống như khớp tay người. Những lần sửa xe rất vất vả và nguy hiểm, đặc biệt là ở nơi trọng điểm, máu lửa Seng Phan (tỉnh Khăm Muộn, Lào), điểm yết hầu vận tải quân lương của bộ đội ta. Máy bay địch dội bom như vãi trấu.
Ngày 22-12-1969, ông Ðỗ Văn Chiến vinh dự được đón nhận danh hiệu cao quý: Anh hùng LLVT nhân dân. Tiểu đoàn của ông cũng được mệnh danh là "Tiểu đoàn Ðại bàng xanh" dũng mãnh trong bão lửa Seng Phan.
Bài thơ Tiểu đội xe không kính của nhà thơ Phạm Tiến Duật ra đời trong lúc chiếc xe Zil ba cầu 157 bị bom đánh trúng, vỡ hết kính, cháy ca-bin. Ông Ðỗ Văn Chiến vẫn lạc quan khắc phục sự cố để rồi lại cùng "con chiến mã" vi vu trên những cung đường hiểm trở với tâm thế: Ung dung buồng lái ta ngồi/Nhìn đất nhìn trời nhìn thẳng.
Khi "gió vào xoa mắt đắng"
Ông Chiến kể: Trong một lần chạy xe vào chiến trường thì máy bay thả bom, cả đoàn xe bị tắc dọc đường. Các chiến sĩ lái xe phải tìm nơi giấu xe. Trăng sáng vằng vặc nên ông phải giấu xe vào lùm cây rậm, sau đó định bụng khăn gói vào hang ngủ thì đột nhiên ông gặp người em họ cũng là lái xe. Nghe tiếng anh mình người em đã chạy đến ôm chầm lấy anh và khóc! Người em nghẹn ngào: "Sao anh không viết thư về nhà, ở nhà cứ đồn là anh đã hy sinh". Những lúc rảnh rỗi, ông vẫn dành thời gian biên thư về cho gia đình, nhưng chiến tranh, bom đạn, thư từ tin tức thất lạc là chuyện thường tình. Thế nhưng khi ấy, ông có cảm giác mình mắc lỗi với những người ở lại. Ðêm trăng vằng vặc giữa rừng, lòng ông chợt trào lên niềm xúc động.
"Chiến trường - nơi sự sống và cái chết cận kề trong gang tấc, biết kể sao cho hết những lần bom dội, cả người cả xe bị hất xuống, khi tỉnh dậy thì nhận ra mình còn sống qua sự đồng cựa của những ngón tay". Cánh chim đầu đàn dũng mãnh của mấy chục năm về trước bây giờ đang ngồi kể lại cho chúng tôi nghe những khoảnh khắc buồn vui đời lính. Tiểu đoàn "Ðại bàng xanh" ngày ấy giờ người mất, người còn, thỉnh thoảng ông và những người đồng đội năm xưa có dịp gặp lại nhau. Tiểu đoàn lừng lẫy một thời ấy bây giờ mỗi người có một số phận riêng, thương tích còn trên thân thể, thời gian đã hằn nếp nhăn trên khuôn mặt họ. Có dịp gặp gỡ, họ góp vui với nhau dăm ba câu chuyện, mà khóe mắt ai cũng rưng rưng.
Bây giờ, ông Chiến hạnh phúc với tổ ấm gia đình. Cả vợ ông và cô con gái đầu lòng đều công tác trong quân ngũ, bà cũng đã về hưu. Ông rất quan tâm tới an ninh, trật tự ở khu phố cho nên bà con cảm mến gọi ông là người "dân phòng tự phong". Cuộc sống thường nhật yên bình là vậy nhưng ký ức năm xưa vẫn dội lên trong tâm tưởng ông bằng những khúc hát hào hùng, những cung đường hiểm trở ăm ắp kỷ niệm, và bằng cả những khoảnh khắc "gió vào xoa mắt đắng".