Một năm sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945

Ðã có hai triệu người biết chữ

Ngày 4-10-1945, báo Cứu Quốc số 58 đã đăng bài "Chống nạn thất học" của Người: ... Một trong những việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này là "Nâng cao dân trí", Chính phủ đã gia hạn trong một năm, tất cả mọi người Việt Nam đều phải biết chữ quốc ngữ, muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh nước giàu, muốn hiểu rõ quyền lợi, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để tham gia xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc biết viết chữ Quốc ngữ.

... Người chưa biết thì gắng học, chồng bảo cho vợ biết, anh bảo cho em, con bảo cho cha mẹ, người làm chưa biết thì chủ nhà bảo, người giàu có thì mở lớp học tư dạy cho hàng xóm láng giềng, chủ ấp, chủ đồn điền, hầm mỏ, nhà máy thì mở lớp cho tá điền, người làm của mình. Phụ nữ lại càng cần phải học, để kịp nam giới, xứng đáng mình là một "phần tử" trong nước có quyền bầu cử và ứng cử...

Nha Bình dân học vụ đã cấp tốc được thành lập theo sắc mệnh của Chính phủ. Cuốn sách về "Phương pháp và cách thức dạy vỡ lòng chữ Quốc ngữ" do Nha xuất bản được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết lời "Căn dặn anh chị em giáo viên Bình dân học vụ": "Anh chị em giáo viên bình dân học vụ cố gắng đọc kỹ sách này, rồi tận tâm dạy bảo đồng bào thất học, làm cho nạn mù chữ chóng hết. Thế là đã làm tròn một nhiệm vụ thiêng liêng của mình đối với Tổ quốc".

Trong thư gửi anh chị em giáo viên bình dân học vụ, Bác viết đại ý: Anh chị em là đội tiên phong thực hiện một trong hai khẩu hiệu (hai sự nghiệp) của đất nước đặt ra là tăng gia sản xuất, chống nạn mù chữ, để mở mang tri thức phổ thông cho đồng bào... Không có lương bổng, thành công mà không có tiếng tăm... là những "Vô danh anh hùng", tuy vô danh nhưng rất hữu ích. Một phần tương lai dân tộc nằm trong sự cố gắng của anh chị em... Cái vinh dự đó thì tượng đồng, bia đá nào cũng không bằng... tôi mong đồng bào ra sức giúp đỡ anh chị em làm việc.

Thực hiện chủ trương của Bác Hồ, chiến dịch diệt giặc dốt đã diễn ra sôi nổi từ thôn quê đến phố chợ, từ miền ngược đến miền xuôi, từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau. Ðâu đâu cũng mở lớp bình dân, trong nhà dân, đình chùa, miếu mạo, chỉ cần mấy chiếc ghế băng, ghế tựa đặt quanh bàn, quanh chiếc phản, cánh cửa, tấm ván mộc làm bảng đã thành lớp học, giáo viên hầu hết không ai qua sư phạm, tình nguyện "cơm nhà việc nước" là thành anh giáo, cô giáo. Học sinh thì đủ cả nam, phụ, lão, ấu đến học miễn phí.

Khắp các ngõ xóm, điếm canh, cổng đình, cổng làng treo đầy nong, nia, mẹt, phên cốt viết chữ cái bằng vôi để ai đi qua cũng có dịp nhẩm, ôn các chữ đã học, hằng tuần đội Nhi đồng cứu vong khua vang trống ếch cổ động người người đi học bình dân, hầu như ai cũng thuộc những vần, những chữ đã được "thi vị" hóa bằng các câu ca dao thiết thực: "i, t (tờ), có móc cả hai. i ngắn có chấm, t (tờ) dài có ngang; e, ê, l (lờ) cũng một loài. ê đội nón chóp, l (lờ) dài thân hơn; o tròn như quả trứng gà. ô thì đội mũ, ơ thời thêm râu".

Một số nơi đã có "sáng kiến" dựng các "cổng mù" ở đầu chợ phiên, ai đọc được chữ i, chữ tờ thì "chính chính đường đường" hân hoan vào chợ, ai mà chưa biết, thì phải qua "cổng mù" mới kịp bán mua! Tuy hơi "cực đoan" nhưng cũng có tác dụng động viên nhân dân tự diệt dốt có hiệu quả.

Trong dân gian khi ấy ít chữ, nhưng đã xuất hiện hàng loạt thơ ca, hò vè, khẩu hiệu vui tai, dễ nhớ, cổ động cho phong trào Bình dân học vụ: "Lấy chồng biết chữ là tiên. Vớ anh mù chữ là duyên con cầy!". "Chữ không có phấn có hồ. Sao mà khéo điểm, khéo tô mặt người". "Mù chữ khổ lắm ai ơi. Có mắt mà chẳng thấy gì sáng soi". "Con gà tốt mã vì lông. Răng đen vì thuốc rượu nồng vì men. Ở đời muốn được tiếng khen. I - tờ đi học "đua chen" mọi người !". "Chồng em đánh giặc phương xa. Ruộng nhà em cấy mẹ già em trông. Bầy con đứa bế đứa bồng. Mà em vẫn học vỡ lòng bình dân!". "Chồng người đi học ở đình. Chồng em lười nhác chẳng mê "i - tờ". Rồi đây khổ sở suốt đời. Vì chồng mù chữ cuộc đời u  mê!".  "Này bà, này mẹ, này cha. Này là em ruột, kia là em dâu. I - tờ chắp chữ, chắp câu. Người người xúm xít bảo nhau học bài". "Ai về chợ huyện Thanh Vân. Hỏi thăm cô tú đánh vần thông chưa. Ðánh vần năm ngoái năm xưa. Năm nay quên hết lại chui cổng mù!". "Hôm qua anh đến chơi nhà. Thấy mẹ dệt vải thấy cha đi bừa. Thấy nàng mải miết xe tơ. Thấy cháu "i - tờ" ngồi học bi bô. Thì ra vâng lệnh Cụ Hồ. Cả nhà yêu nước "thi đua" học hành".

Sáu hai năm đã qua, những người cao tuổi "thất thập" trở lên đều đã được chứng kiến, tham gia "chiến dịch" diệt giặc dốt trong thời kỳ đầu cách mạng mới thành công. Hàng triệu người từ bô lão đến nhi đồng đều cắp sách đến trường, để có kiến thức mới tham gia xây dựng nước nhà. Chỉ trong vòng một năm (đến 8-1946) ở riêng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đã có 2,5 triệu người thoát nạn mù chữ (1).

Ðây thật là một kỳ tích vô song của dân tộc sau khi được độc lập, là một công lao trời biển của Ðảng, Nhà nước, Bác Hồ khi ấy. Phong trào bình dân học vụ vẫn được duy trì phát triển trong nhiều năm sau đó, nhiều học sinh biết chữ từ lớp học bình dân đã trưởng thành, trở thành cán bộ cốt cán trong cuộc kháng chiến chống Pháp chín năm từ cơ sở cho đến trung ương. Chủ trương phát động nhân dân "diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm" đã đi vào lòng dân, động viên được toàn dân tham gia và cũng đã đem lại lợi ích cho cả nhân dân và dân tộc, làm cho thế giới khâm phục.

---------------

(1) Hồ Chí Minh tập 4, T.543.

Có thể bạn quan tâm