Bài báo viết: Viên đạn cuối cùng trong cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam được bắn ra vào tháng 4 - 1975. Nếu Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) được thông qua vào mùa hè này như nhiều người trông đợi, có nghĩa là Mỹ mất tới 32 năm - gần một phần ba thế kỷ - để khép lại bộ hồ sơ chiến tranh và đem lại cho mối quan hệ sự khởi đầu tươi mới.
Hầu như không có một bóng ma chiến tranh nào có thể tồn tại lâu và để lại nỗi ám ảnh nặng nề trong tâm lý của người Mỹ đến vậy. Ba thập kỷ sau chiến tranh thế giới thứ 2, Mỹ, Nhật Bản và Đức đã thành những người bạn thân và là đồng minh thân cận nhất của nhau. Vết thương chiến tranh Việt Nam nặng hơn nhiều. Điều gây kinh ngạc hơn là chính những người ủng hộ bình thường hóa lại ở trong nhóm người ta ít trông đợi nhất, đó là những cựu chiến binh từng tham chiến ở Việt Nam, những người đã nhận ra rằng cuộc chiến đó với họ đã chấm dứt từ lâu.
Tại Quốc hội, dự luật về PNTR được bảo trợ bởi một số cựu chiến binh, trong đó ông John McCain (Đảng Cộng hòa, bang Arizona), một cựu tù binh chiến tranh, nổi lên là một người ủng hộ nhiệt thành cho nỗ lực của Việt Nam giành vị trí bình thường trong chính sách đối ngoại của Mỹ.
Ông Jan Scruggs, một cựu chiến binh bị thương trong chiến tranh Việt Nam và là người sáng lập Quỹ Tưởng niệm những cựu chiến binh ở Việt Nam phát biểu: “Chính những cựu chiến binh có thế lực chính trị như các ông McCain, John Kerry (Đảng Dân chủ, bang Massachusset), Chuck Hagel (Đảng Cộng hòa, bang Nebraska), là những người thúc đẩy mạnh mẽ nhất nhằm giúp người dân Việt Nam có một cuộc sống tốt đẹp hơn”.
Đối với cựu chiến binh, việc can dự và ủng hộ Việt Nam là điều không hề dễ dàng. Tổn thương tâm lý thường luôn hiện hữu trong họ. Sedwick Tourison rời Việt Nam năm 1967 và đến năm 2005 mới trở lại đó.
Một năm sau, Tourison giúp một Nhà xuất bản Việt Nam có được bản quyền để ấn hành một số sách của phương Tây ở Việt Nam. Ông Tourison nói, đây là sự thay đổi do việc hội nhập với thế giới và nhận thức được rằng hội nhập sẽ mang lại những lợi ích to lớn nhưng cũng đòi hỏi trách nhiệm.
Việc can dự cũng làm cho các cựu chiến binh, những người không thể quên đi quá khứ chiến tranh, khép lại cuộc chiến đó. Ông Tourison cho rằng, nguyên nhân những tổn thương nằm ở chỗ: “Chúng tôi không chiến thắng trở về. Chúng tôi không quen thất trận về nhà. Vì vậy, với một số người thì cuộc chiến vẫn tiếp diễn cho đến tận hôm nay. Nhưng bản thân tôi không biết bất kỳ một cựu chiến binh nào có ý đồ xấu với nhân dân Việt Nam. Vì vậy chúng tôi làm tất cả những gì có thể mang tính xây dựng để bỏ lại cuộc chiến phía sau mình.”
Với Việt Nam, sự ủng hộ của cựu chiến binh đã tạo ra sự khác biệt. Trong những thập niên trước không nhiều người biết về vị trí của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế, vì vậy những người chống lại bình thường hóa quan hệ cứ tập trung vào tàn dư chiến tranh, đặc biệt là vấn đề quân nhân mất tích trong khi thi hành nhiệm vụ (MIA). Nhưng vào năm 1991, khi Tổng thống George Bush trình bày với chính phủ Hà Nội một bản lộ trình nhằm cải thiện quan hệ giữa hai nước, Việt Nam đã không hề do dự.
“Chúng tôi mặc cả với họ” - ông Robert Wallace, Giám đốc điều hành Văn phòng tại Washington của Hội Cựu binh các cuộc chiến tranh ở nước ngoài của Mỹ (VFW) nói - “các ông giúp chúng tôi vấn đề MIA và chúng tôi sẽ bình thường hóa quan hệ với các ông”. Ông nói: Chúng tôi xây dựng lòng tin và họ đã làm đúng lộ trình. Vì vậy bây giờ là lúc chúng ta phải giữ lời hứa của mình.
Trong nhiều năm, VFW là tổ chức có ảnh hưởng đã ủng hộ mạnh mẽ bình thường hóa quan hệ. Nhưng Wallace cho rằng, bình thường hóa không chỉ là làm đúng những điều đã cam kết với Việt Nam. Với ông, bình thường hóa và lòng tin cũng đem lại những lợi ích cụ thể đối với vấn đề ông quan tâm. “Chúng tôi không sang Việt Nam để kinh doanh, mà là để giải quyết vấn đề MIA” ông khẳng định. Và để nghe được những câu chuyện liên quan đến những trường hợp mất tích còn lại, ông cần được gặp một số ít những người Việt Nam vẫn chưa tin vào Hoa Kỳ.
Và để điều đó được thực hiện, không gì hữu ích hơn là một mối quan hệ bình thường làm cho lòng tin giữa người dân hai nước Việt - Mỹ ngày càng tăng.
Thậm chí những người chống đối mạnh mẽ nhất bình thường hóa quan hệ song phương, những người Việt sang Mỹ sau khi chế độ ở miền Nam Việt Nam sụp đổ, cũng đã dịu giọng phần nào và phải thừa nhận lợi ích của chủ trương bình thường hoá quan hệ. Ông Nguyễn Cao Kỳ, viên tướng trước kia từng là Thủ tướng dưới chế độ Sài Gòn cũ và chạy sang Mỹ sau cuộc sụp đổ năm 1975, đã trở lại quê hương năm 2004.
Nhân vật từng là phần tử chống Cộng quyết liệt nói rằng việc quay lại thời kỳ trước kia là điều không tưởng chỉ có vài ông già sắp chết còn ôm ấp. Ông Kỳ cho rằng chính phủ hiện nay mang lại sự ổn định và một nền kinh tế đang phát triển mạnh và rằng phá hoại quá trình bình thường hóa quan hệ giữa Washington và Hà Nội là “sai.”
Ông Kỳ không thể bị buộc tội là mềm yếu với kẻ thù. Ông ta đã từng muốn chiến đấu cản bước tiến của quân đội Bắc Việt ở từng căn nhà để bảo vệ Sài Gòn. Ông đã không thể thuyết phục những vị chỉ huy của mình về sự khôn ngoan của quan điểm đó. Ngày nay, bản thân ông nhận thấy có con đường tốt hơn quan điểm cũ. Ông ủng hộ những thay đổi từ từ chứ không phải thay đổi cấp tiến như chủ trương của các nhóm cực đoan trong cộng đồng người Việt hải ngoại.