Eo biển Malacca dài khoảng 960 km, thuộc các vùng lãnh hải của Singapore, Malaysia, Indonesia và một phần miền nam Thái-lan. Đây là tuyến hàng hải quan trọng nhất thế giới, hằng năm có hơn 50 nghìn lượt tàu bè qua lại, chuyên chở hơn 30% lượng dầu, 50% hàng hóa buôn bán trên thế giới.
Tuy nhiên, Malacca cũng nổi tiếng thế giới về nạn cướp biển. Chính vì vậy, các nước trong vùng đang nỗ lực hợp tác tìm biện pháp trấn áp cướp biển, ngăn ngừa khủng bố, bảo đảm an ninh cho tuyến hàng hải huyết mạch này.
“Ao nhà” của hải tặc
Tuyến hàng hải qua eo biển Malacca được đánh giá quan trọng không kém kênh đào Panama hay Suez, là đường biển ngắn nhất nối biển Andaman ở ấn Độ Dương với Thái Bình Dương. Nơi hẹp nhất chỉ có chiều rộng 2,8 km tại Phillips Channel (Singapore). Tàu bè qua lại nơi đây dày đặc, eo biển hẹp nên tàu phải giảm tốc, thuận lợi cho bọn cướp biển áp sát tiến công. Nơi đây, nhất là vùng lãnh hải Indonesia, có hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ, hoang vắng, là địa bàn “màu mỡ” cho các hoạt động cướp biển.
Trên thế giới, mỗi năm xảy ra hàng trăm vụ cướp biển, gây tổn thất trung bình 16 tỷ USD/năm. Trong nửa đầu năm 2005, người ta ghi nhận 127 vụ cướp biển trên thế giới, giảm 30% so cùng kỳ năm trước, song vùng eo biển Malacca, nhất là vùng lãnh hải Indonesia vẫn là vùng biển nguy hiểm nhất. Theo thống kê của Văn phòng cơ quan hàng hải quốc tế (IMB), năm 1994, tại Malacca chỉ xảy ra 25 vụ cướp biển thì đến năm 2000, con số này lên đến 220 vụ, mức cao nhất cho đến nay. Năm 2004, xảy ra 37 vụ cướp, trong đó nghiêm trọng nhất là vụ bọn cướp biển tiến công tàu dầu Cherry 201 của Indonesia vào ngày 5-1, bắt cóc 13 thủy thủ, về sau bọn chúng bắn chết bốn thủy thủ.
Sáu tháng đầu năm 2005 đã xảy ra ít nhất 6 vụ. Hãng bảo hiểm Lloyd (Anh) mới đây đã xếp eo biển Malacca vào khu vực nguy hiểm nhất trên thế giới, khu vực “rủi ro chiến tranh”, tương đương như Iraq, Somalia… Điều này có nghĩa các tàu hoạt động qua lại eo biển Malacca từ nay phải đóng phí bảo hiểm cao hơn trước rất nhiều. Ngay lập tức, các hãng tàu ở Singapore đã kịch liệt phản đối quyết định này của Lloyd.
Ngày nay, cướp biển Malacca đã trang bị vũ khí hiện đại: súng tiểu liên cực nhanh, súng máy, lựu đạn, súng phóng lựu, ống phóng rocket… Bọn chúng thường đi trên những tàu cao tốc, lợi dụng đêm tối, tiến công bất ngờ chỉ trong vòng vài chục phút các “con mồi” to lớn, nặng nề, chậm chạp qua eo biển Malacca. Nhiều toán còn ngụy trang trên tàu đánh cá, khiến thủy thủ đoàn khó mà phân biệt. Sau khi gây án, bọn chúng lập tức biến mất vào những đảo hoang vắng, không để lại dấu vết. Gần đây, bọn cướp thường cướp sạch tiền, hàng hóa giá trị, giấy tờ, chứng từ quan trọng của tàu, bắt cóc thủy thủ đoàn để đòi tiền chuộc. Một số vụ cướp tàu và bắt cóc con tin được giải quyết êm thấm, thủy thủ đoàn được phóng thích nhưng chính phủ các nước có nạn nhân thường không tiết lộ chi tiết thỏa thuận với bọn cướp biển. Nhiều nhóm cướp biển trong vùng bị nghi ngờ liên quan các nhóm khủng bố, hoạt động tội phạm như buôn lậu vũ khí, ma túy và hàng hóa đánh cướp, thậm chí thông đồng với các quan chức địa phương…
Trước tình hình nguy hiểm đó, nhiều hãng tàu đã lên tiếng đòi trang bị vũ khí cho các tàu hàng. Tuy nhiên, IMB cũng như chính phủ các nước không ủng hộ quan điểm này. Điều đó chỉ càng làm bọn hải tặc điên cuồng và bọn chúng cũng “chạy đua vũ trang” để tiến công các tàu hàng có vũ khí. IMB đã đề ra hình thức như đề nghị các tàu hàng trọng tải 500 tấn trở lên trang bị hệ thống báo động nối với trung tâm đất liền, trang bị hệ thống hàng rào điện cao thế (gắn ở thành tàu) và chuông báo động chống đột nhập từ dưới biển, phát triển các hình thức thanh toán điện tử, giảm thiểu lượng tiền mặt mang theo tàu… Malaysia còn thay thế thủy thủ trên các tàu kéo, tàu hoa tiêu hoạt động tại Malacca bằng các cảnh sát vũ trang. Singapore tuyên bố xúc tiến thành lập trung tâm thông tin hoạt động 24/24 giờ, dự kiến đi vào hoạt động đầu năm 2006.
Bên cạnh nỗi lo cướp biển, trong một thế giới đầy những phức tạp thì nỗi lo khủng bố tại Malacca lại càng tăng lên. Tàu chiến Mỹ USS Cole, tàu dầu Pháp Limbug đã từng bị đánh bom khủng bố ở ngoài khơi Yemen năm 2000 và 2002. Khả năng này hoàn toàn có thể xảy ra bởi trong khu vực Malacca là sào huyệt của các nhóm khủng bố như Jemaah Islamiah (JI), Phong trào Aceh tự do (GAM), thậm chí cả nhóm Abu Sayyaf ở tận Philippines cũng có khả năng liên hệ với hai nhóm khủng bố kia.
Các chuyên gia lo ngại bọn khủng bố sẽ khống chế các tàu dầu hay tàu chở khí ga làm những “quả bom nổi” khổng lồ đe dọa các cảng biển, thành phố duyên hải Malacca. Chỉ một tàu dầu cỡ trung bình bị đánh chìm tại Malacca, nơi nông nhất chỉ có 25 m, thì cả tuyến đường hàng hải quan trọng này bị ngưng trệ hàng tuần, thiệt hại kinh tế vô cùng lớn. Năm 2003, một tàu dầu xuất phát từ cảng Klang của Malaysia đã bị những tên cướp biển mà người ta nghi là thành viên của GAM tiến công và bắt cóc toàn bộ thủy thủ đoàn. Trong số các nước trên, Singapore lo ngại nhất bởi nước này là đầu mối cảng biển quốc tế và khu vực, do đó an ninh eo biển Malacca có ý nghĩa sống còn đối với Singapore.
Nỗ lực hợp tác trong vùng
Ngay từ giữa năm 2004, trước tình hình phức tạp tại eo biển, ba nước đã phối hợp tuần tra chung trên biển trong chiến dịch mang tên “Malsindo” (viết tắt tên của ba nước Malaysia, Singapore và Indonesia). Tuy nhiên, những hoạt động này hầu như chưa mang lại hiệu quả rõ rệt, các vụ cướp biển vẫn cứ xảy ra do địa bàn phức tạp, lực lượng các bên mỏng, chưa có sự phối hợp đồng bộ.
Từ đầu năm 2005 đến nay, nhất là đầu tháng 8 vừa qua, các cuộc họp bàn về an ninh eo biển Malacca đã diễn ra dồn dập tại Malaysia, Indonesia giữa các bộ trưởng ngoại, tướng lĩnh cấp cao các nước chung lãnh hải Malacca, trong đó có cả Thái-lan. Các nước đã nhất trí nhiều biện pháp tăng cường an ninh như trao đổi thông tin tình báo, tăng cường tổ chức các cuộc tuần tra chung. Cụ thể hóa điều này, ba nước Indonesia, Malaysia và Singapore đã bắt tay chuẩn bị thực hiện chiến dịch tuần tra không phận Malacca quy mô lớn bắt đầu từ tháng 9 tới mang tên “Những con mắt trên không”, được coi là một trong những cột mốc lịch sử hợp tác đấu tranh chống cướp biển tại Malacca.
Tư lệnh lực lượng quân đội Indonesia, tướng Endriartono Sutarto nói rằng, những nỗ lực nói trên nhằm chứng tỏ với cộng đồng quốc tế rằng, ba nước đang làm hết sức mình để bảo vệ an ninh eo biển Malacca. Về nguyên tắc, hai nước Indonesia và Malaysia không chấp nhận lực lượng nước ngoài tham gia tuần tra chung nhưng để ngỏ khả năng kêu gọi các cường quốc trợ giúp về mặt thiết bị, công nghệ phục vụ bảo đảm an ninh eo biển, nhất là hệ thống viễn thông, vệ tinh, radar giám sát hiện đại…
Nhìn vào địa hình Malacca thì thấy rõ thực lực hải quân, không quân ba nước chưa đáp ứng yêu cầu. Indonesia có tới 17 nghìn hòn đảo lớn nhỏ, nước này lại vừa trải qua thảm họa sóng thần ở đảo lớn Sumatra, mà nặng nề nhất là Aceh. Hải quân nước này chỉ có ít tàu, ngoài việc bảo vệ chủ quyền lãnh hải còn phải tham gia hoạt động cứu trợ ở Aceh, đồng thời tham gia truy quét phần tử ly khai GAM. Việc triển khai lực lượng tuần tra đòi hỏi huy động một lực lượng lớn, tốn kém chi phí không chỉ đối với Indonesia mà cả Malaysia và Singapore. Để khắc phục tình trạng này, các nước đều cố gắng tăng cường mua sắm trang thiết bị mới, nhất là tàu tuần tiễu. Indonesia có kế hoạch đặt mua 22 tàu chiến hiện đại để tăng cường tiềm lực hải quân.
Các máy bay trinh sát được trang bị những loại ra đa hiện đại giám sát các hoạt động của tàu bè trên eo biển, nhất là những loại tàu nhỏ mà bọn hải tặc thường sử dụng. Tuy nhiên, các chuyên gia quân sự cũng cảnh báo rằng, các tàu của bọn cướp thường rất nhỏ, ngụy trang không khác gì tàu đánh cá vốn có hàng nghìn chiếc đang hoạt động, cho nên rất khó xác định. Có chuyên gia cho rằng, cần tập trung điều tra, phát hiện các căn cứ, hang ổ của bọn hải tặc đóng trên các đảo nhỏ ven biển Malacca
Robert Karniol, Tổng biên tập Tuần báo quốc phòng Jane khu vực châu á nhận định rằng, lực lượng tuần tra hỗn hợp của ba nước chỉ có thể huy động cao nhất 60 máy bay tuần tra trên eo biển Malacca suốt phạm vi từ biển Andaman tới Papua New Guinea. Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng, một số máy bay trinh sát P-3C Orion của Không quân Australia đóng tại căn cứ Butterworth của Malaysia từ năm 1981 đến nay có thể sẽ tham gia tuần tra chung với lực lượng của ba nước. Australia triển khai máy bay ở Malaysia theo Thỏa thuận năm cường quân sự gồm Australia, Anh, Malaysia, New Zealand và Singapore. Theo đó, trong trường hợp Malaysia hoặc Singapore bị đe dọa tiến công thì các nước thành viên khác có thể can thiệp trợ giúp.
Tuy không nằm trọn trong vùng eo biển Malacca, nhưng Thái-lan cũng gắn bó mật thiết với eo biển này. Cùng thuộc lãnh hải Thái-lan nhưng tàu bè nước này muốn đi từ phía đông (vịnh Thái-lan) sang phía tây (biển Andaman) hay ngược lại, đều phải qua eo biển Malacca. Đầu tháng 6 vừa qua, một tàu dầu của Thái-lan đã bị cướp tại eo biển này. Vì vậy, Thái-lan đã nhiều lần đề nghị được đóng góp lực lượng trong việc tuần tra chung trên eo biển Malacca. Ba nước đã hoan nghênh và ủng hộ đề xuất của Thái-lan. Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long đã kêu gọi Thái-lan đóng vai trò tích cực trong việc bảo đảm an ninh eo biển Malacca tại cuộc hội đàm với Bộ trưởng Ngoại giao Thái-lan Kantathi Suphamongkhon trong chuyến thăm Singapore đầu tháng 8 mới đây. Ba tỉnh miền nam Thái-lan, nơi đang diễn ra các cuộc bạo loạn dai dẳng 18 tháng qua, tiếp giáp phần tây bắc eo biển Malacca. Nhà chức trách lo ngại bọn bạo loạn có thể tham gia các hoạt động cướp biển tại đây.
Bên cạnh sự hợp tác của các nước trên, cũng từ năm 2004 đến nay, ít nhất năm hãng bảo vệ tư nhân phương Tây đã nhanh chân vào Singapore thành lập và vào hoạt động lĩnh vực hộ tống tàu qua lại eo biển Malacca. Họ chỉ được phép trang bị những vũ khí cá nhân và người ta gọi đó là “hải quân tư nhân”. Nổi đình đám nhất nhóm này phải kể đến hãng Background Asia Risk Solutions (BARS) so các cựu binh quân đội và cảnh sát Mỹ, Anh, nhiều người trong số đó là cựu binh Iraq, Afganistan, mỗi tháng kiếm được sáu hợp đồng hộ tống với giá rẻ nhất 50 nghìn USD/chuyến, giá cao nhất 100 nghìn USD/chuyến. Giải pháp này chỉ mang tính tạm thời, không được dư luận khu vực đồng tình bởi điều này làm tăng chi phí vận tải, thể hiện sự bất lực của ba nước trong việc bảo đảm an ninh.
Sự sốt sắng của các cường quốc
Trong số các cường quốc, Nhật Bản là nước sốt sắng nhất trong việc đề nghị gửi tàu tuần tiễu tới Malacca tham gia bảo vệ các tàu hàng, nhất là tàu của Nhật Bản. Giữa tháng 3 vừa qua, một tàu kéo của Nhật Bản đã bị cướp biển Malacca tiến công, cướp đi 800 nghìn yên (hơn 7.200 USD), các giấy tờ, chứng từ quan trọng và bắt cóc ba thủy thủ. Mỗi năm, 80% lượng dầu nhập khẩu của Nhật Bản được chuyên chở qua eo biển Malacca. Nhiều sản phẩm xuất khẩu của Nhật Bản sang EU, Trung Đông cũng qua eo biển này. Nhật Bản cũng tích cực hỗ trợ các nước vùng Malacca về tài chính và đào tạo chuyên gia chống khủng bố và cướp biển.
Đối với Mỹ, ngay từ tháng 4-2004, Tư lệnh lực lượng Mỹ tại Thái Bình Dương, đô đốc Thomas Fargo đã đề nghị ba nước vùng Malacca cho phép lực lượng đặc nhiệm với tàu tuần tiễu Mỹ triển khai tại eo biển này cùng tham gia tuần tra chung. Singapore thì ủng hộ đề nghị này nhưng hai nước Indonesia và Malaysia thì kiên quyết bảo lưu quan điểm không cho phép quân đội nước ngoài tham gia tuần tra chung. Theo quan điểm của các quan chức hai nước, việc quân đội nước ngoài hiện diện tại eo biển Malacca càng “hấp dẫn” các phần tử Hồi giáo khủng bố quốc tế tập trung về đây và nguy cơ xảy ra khủng bố là không tránh khỏi.
Từ đầu năm 2005 đến nay, trong cuộc hội đàm giữa các quan chức quốc phòng Indonesia và Mỹ tại Jakarta, Mỹ đã không dưới hai lần đề nghị triển khai tàu chiến và máy bay tuần tiễu, thậm chí đòi thiết lập căn cứ hải quân tại Malacca nhưng không được phía Indonesia đáp ứng. Về thực chất, Mỹ đang muốn hiện diện về quân sự tại khu vực Đông Nam á. Muốn vậy, phải có một lý do hợp lý. Nếu lấy danh nghĩa vào “trấn áp khủng bố” thì rõ ràng, các nước ASEAN không chấp nhận, mà điều này chẳng khác gì thừa nhận các nước trong khu vực bất ổn.
Trong tình hình quốc tế hiện nay, các nước trong khu vực cũng không dễ chấp nhận cho Mỹ quay trở lại đóng căn cứ quân sự trên đất liền, trên đảo. Hơn nữa, việc triển khai này khá tốn kém, chắc chắn gặp phải sự phản đối mạnh mẽ của dư luận. Với tiềm lực quân sự và trình độ công nghệ phát triển ngày nay, mỗi tàu chiến có thể tương đương như một căn cứ quân sự đa năng trên biển. Do vậy, Mỹ chỉ cần sự có mặt các tàu chiến trong vùng biển Malacca là đạt được ý đồ chính trị. Chính vì vậy, “bảo đảm an ninh hàng hải” tại eo biển Malacca sẽ là cơ hội ngàn vàng đối với Mỹ hiện diện về quân sự trong vùng. Trong cuộc tập trận “Rắn hổ mang vàng 2005” diễn ra tại Thái-lan tháng 5-2005, Mỹ có đưa thêm nội dung tập trận chống hải tặc vào các cuộc diễn tập của hải quân tại một số vùng biển có điều kiện địa hình tương tự Malacca, đủ thấy Mỹ rất quan tâm tình hình khu vực nói chung và eo biển Malacca nói riêng.
Mặc dù muốn tự chủ trong việc bảo đảm an ninh Malacca, song thực tế, khả năng lực lượng, trang thiết bị quân sự… của các nước vùng Malacca chưa đủ mạnh. Do vậy, việc mở rộng hợp tác với các nước là điều tất yếu. Hơn nữa, một số nước có tàu bè qua lại Malacca (nhất là các nước Đông Bắc á) cũng bày tỏ lo ngại và mong muốn hợp tác với các nước trong vùng để bảo đảm an ninh tuyến hàng hải này. Vì thế, một hình thức mở rộng hợp tác đang được các nước vùng Malacca tính đến đó là thường xuyên tổ chức các cuộc tập trận hỗn hợp hải quân-không quân với sự tham gia của lực lượng nước ngoài. Điều quan trọng và thách thức lớn nhất là các nước ASEAN thuộc vùng biển Malacca là ngoài việc bảo đảm an ninh tuyến hàng hải huyết mạch, thì cũng cần phải bảo đảm an ninh chủ quyền của mỗi nước và khu vực, hợp tác với các nước trên cơ sở phù hợp hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế và các nguyên tắc cơ bản của ASEAN.
Vấn đề cướp biển Malacca rõ ràng đe dọa an ninh đường hàng hải quốc tế quan trọng bậc nhất thế giới nói chung và phần nào, ảnh hưởng tình hình an ninh, chính trị ASEAN nói riêng. Điều này, đòi hỏi các nước trong vùng biển Malacca phải nỗ lực hợp tác, bỏ qua những bất đồng, để cùng nhau bảo đảm an ninh khu vực, không để các thế lực bên ngoài can thiệp làm tình hình chính trị khu vực thêm phức tạp.