Dưới gốc đa cổ thụ trong khuôn viên tòa soạn báo Nhân Dân ở 71 Hàng Trống, Hà Nội, sáng 26-4, 50 đại biểu - những người từng trực tiếp tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu trên chiến trường Ðiện Biên Phủ cũng như các chiến trường phối hợp ở Nam Bộ, khu 5 và mặt trận Lào "chia lửa" với Ðiện Biên Phủ, đã xúc động quây quần quanh Ðại tướng Võ Nguyên Giáp, vị Tổng Tư lệnh LLVTND, Tư lệnh mặt trận Ðiện Biên Phủ năm xưa. Như sự trùng hợp của lịch sử, những người Chiến thắng trận Ðiện Biên Phủ cách đây nửa thế kỷ họp mặt tại chính địa điểm trước kia là dinh thự của tướng Cô-nhi, chỉ huy quân Pháp ở Bắc Ðông Dương, nơi ông ta đã nhận tin tướng Ðờ-Cát đầu hàng ở Ðiện Biên Phủ. 50 năm đã trôi qua, những nhân chứng lịch sử Ðiện Biên Phủ về dự Cuộc gặp mặt nhân kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Ðiện Biên Phủ, do báo Nhân Dân và Tổng cục Chính trị QÐND Việt Nam tổ chức, trên ngực phủ kín những huân chương, huy chương, người trẻ nhất nay tuổi cũng 70, nhiều người 80-90, lâu ngày gặp lại nhau, niềm vui ánh lên trên gương mặt tuổi tác, nhưng phía sau mỗi nếp nhăn là sự từng trải trận mạc và lấp lánh chiến công trong cuộc trường chinh cứu nước và bảo vệ Tổ quốc, từ Ðiện Biên Phủ đến Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất đất nước.
Mở đầu cuộc gặp mặt, đồng chí Ðinh Thế Huynh, Ủy viên T.Ư Ðảng, Tổng Biên tập báo Nhân Dân phát biểu chào mừng các đại biểu. Thay mặt những người làm báo Ðảng, đồng chí bày tỏ niềm tự hào, lòng biết ơn sâu sắc những anh hùng, liệt sĩ, đồng chí, đồng bào đã góp công sức, mồ hôi và cả máu xương trên chiến trường Ðiện Biên Phủ và các chiến trường phối hợp, vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Ðồng chí nói: "Chiến thắng Ðiện Biên Phủ, như nhận định của Chủ tịch Hồ Chí Minh, "là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao điểm, thắng lợi hoàn toàn". Chiến thắng vĩ đại Ðiện Biên Phủ kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược, đã đi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Ðằng, Chi Lăng trong thời đại Hồ Chí Minh. Ðồng thời đó là chiến thắng "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" mà thời gian càng lùi xa, tầm vóc và ý nghĩa lịch sử của nó càng to lớn và sâu sắc.
Vào thời điểm diễn ra chiến dịch Ðiện Biên Phủ, báo Nhân Dân vừa tròn ba tuổi. Giấy mực tự chế còn thô sơ, phương tiện làm báo còn lạc hậu, nhưng trên mỗi số báo đều đậm đà đưa tin chiến thắng từ mặt trận Ðiện Biên Phủ đến với đồng bào, chiến sĩ, nhất là những bài báo của phóng viên mặt trận Thép Mới mà người đọc như cảm thấy cả tiếng gầm của đạn pháo và khói súng của chiến trường. Thép Mới viết :"Nói đến Việt Nam ngày nay, bạn nước ngoài nghĩ ngay đến cái tên Hồ Chí Minh. Sau tên quý yêu của lãnh tụ ta, còn có một danh từ Việt Nam nữa mà người ở khắp thế giới vào nửa cuối thế kỷ 20 khá thuộc. Ðối với đồng chí, anh em thân và bạn xa gần, danh từ đó bát ngát một niềm tự hào chung. Nó vang lên như kèn xung trận, hát mãi ngợi chào tự do, sáng như cả một rừng hoa ban và thơm mãi như hương lúa đồng quê, như cốm mới, như đời đời máu của chúng ta thơm thắm. Ðối với kẻ thù, cả bầy sói lang thực dân, đế quốc và lũ tay sai của chúng, tên đó vẫn làm choáng óc và nghe bi ai như một hồi chuông nguyện báo giờ gần đất xa trời.
Danh từ Việt Nam đó là ba chữ: Ðiện Biên Phủ... Danh từ đó nghiễm nhiên bước chân đường bệ vào các từ điển danh tiếng trên thế giới".
Những người làm báo hòa mình trong sự nghiệp cách mạng của đất nước, của nhân dân, họ cũng như những người lính, có mặt ở tuyến đầu, ghi chép lịch sử, và chính họ cũng là những chứng nhân của lịch sử.
Chúng ta kỷ niệm 50 năm Chiến thắng lịch sử Ðiện Biên Phủ, ôn lại những kỷ niệm, những bài học quý giá của chiến thắng năm xưa để cùng nhau phát huy tinh thần Ðiện Biên, hào khí Ðiện Biên trong thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH, HÐH đất nước, phấn đấu vì mục tiêu cao cả dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; quyết làm nên những Ðiện Biên Phủ mới trong thời kỳ đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN thân yêu của chúng ta".
Quân đội ta kế tục xứng đáng và phát huy truyền thống Ðiện Biên Phủ
Ông Lê Văn Dũng. |
Thượng tướng Lê Văn Dũng, Bí thư T.Ư Ðảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, phát biểu ý kiến nêu rõ: "Trong ký ức của mỗi người con đất Việt, cũng như triệu triệu trái tim của các dân tộc bị áp bức và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, còn khắc ghi sự kiện lịch sử trọng đại cách đây 50 năm, ngày 7-5-1954, quân và dân ta đã giành toàn thắng trong trận quyết chiến chiến lược ở Ðiện Biên Phủ, đỉnh cao của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong chiến dịch Ðông - Xuân 1953-1954 và trong cả cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Niềm vui chiến thắng Ðiện Biên Phủ tràn ngập trên đất nước Việt Nam, "Âm vang Ðiện Biên" lan tỏa tới bè bạn khắp năm châu, bốn biển. Chiến thắng lịch sử đó chấm dứt sự đô hộ hơn 80 năm của thực dân Pháp đối với dân tộc ta, đồng thời đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ, cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến dịch lịch sử Ðiện Biên Phủ, trước hết là thắng lợi của đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn và sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Ðảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện sâu rộng trên cả nước; đó là tư tưởng chỉ đạo chiến lược phát huy sức mạnh của chiến tranh nhân dân căng địch ra trên toàn chiến trường Ðông Dương mà đánh, trói địch lại trên mặt trận Ðiện Biên Phủ để diệt; là thắng lợi của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, quân với dân một ý chí, của lòng quả cảm của hàng vạn cán bộ, chiến sĩ LLVT và dân công hỏa tuyến không quản hy sinh, chiến đấu quên mình; là sự kế thừa và phát triển nghệ thuật quân sự đánh giặc giữ nước của dân tộc và tài thao lược của Bộ tham mưu Chiến dịch, trong đó có sự đóng góp quan trọng của Ðại tướng Võ Nguyên Giáp với cương vị là Tổng Tư lệnh QÐND Việt Nam, Bí thư Ðảng ủy kiêm Chỉ huy trưởng mặt trận. Ðó là thắng lợi của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam với ý chí "Không có gì quý hơn độc lập, tự do"; là thắng lợi của sự kết hợp nhuần nhuyễn sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại; thắng lợi của lương tri nhân loại tiến bộ và yêu chuộng hòa bình trên thế giới.
Nhân buổi gặp mặt này, thông qua báo Ðảng, Tổng cục Chính trị QÐND Việt Nam xin hứa với toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân sẽ phấn đấu làm tốt hơn nữa chức năng tham mưu chiến lược giúp Bộ Chính trị, BCHT.Ư Ðảng, trực tiếp là Ðảng ủy Quân sự T.Ư lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quân đội ta luôn vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu toàn diện, kế tục xứng đáng và phát huy truyền thống Ðiện Biên Phủ, thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Quân đội ta trung với Ðảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng".
| Ông Phạm Gia Khiêm. |
Phát biểu ý kiến tại cuộc gặp mặt, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm, Trưởng Ban chỉ đạo Nhà nước kỷ niệm 50 năm Chiến thắng lịch sử Ðiện Biên Phủ, đã thông báo về hàng trăm hoạt động khác nhau được tổ chức trên cả nước, nhằm phát huy các giá trị tinh thần Ðiện Biên Phủ, nhân lên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ mới. Cuộc gặp mặt nhân chứng lịch sử Ðiện Biên Phủ hôm nay do báo Nhân Dân và Tổng cục Chính trị QÐND Việt Nam tổ chức, là một hoạt động rất có ý nghĩa, bởi chúng ta được nghe chính những người trong cuộc kể về sự kiện lịch sử vĩ đại của dân tộc. Ðồng chí đánh giá báo chí là kênh rất quan trọng để tuyên truyền về kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Ðiện Biên Phủ.
Sức mạnh chiến tranh nhân dân và sức mạnh quân đội nhân dân
| Ông Trần Văn Quang. |
"Người trong cuộc" đầu tiên phát biểu ý kiến tại cuộc gặp mặt là Thượng tướng Trần Văn Quang. Ngày ấy, đồng chí là Cục trưởng Cục tác chiến Bộ Tổng tham mưu phụ trách công tác tác chiến chiến dịch. Theo đồng chí Trần Văn Quang, nhiều tài liệu, nhiều người đã nói về chiến trường Ðiện Biên Phủ, cả về chỉ đạo, thực hiện, kết quả và ý nghĩa, cho nên phát biểu tại đây, đồng chí tập trung nhấn mạnh một vấn đề, đó là "sức mạnh chiến tranh nhân dân và sức mạnh quân đội nhân dân trong chiến cuộc Ðông-Xuân 1953-1954, đặc biệt trong chiến dịch Ðiện Biên Phủ".
Nghệ thuật chiến tranh nhân dân, theo đồng chí, biểu hiện ở:
- Tư tưởng tiến công mà hình ảnh tiêu biểu là câu nói của Bác Hồ và động tác xoè bàn tay và nắm lại khi nghe báo cáo về âm mưu của Na-va. Bác nói đại ý là: Ðịch tập trung quân cơ động để tạo thành sức mạnh... Không sợ. Ta buộc chúng phải phân tán thì sức mạnh đó không còn.
- Chọn hướng tiến công, đánh vào chỗ yếu và hiểm yếu của địch, không những hai hướng mà bốn-năm hướng, tiến công trước mặt và sau lưng, cả miền núi và đồng bằng, phối hợp các chiến trường rất hiệu qủa.
- Chủ động, linh hoạt mà tiêu biểu là thay đổi cách đánh ở Ðiện Biên Phủ và tranh thủ thời cơ mở đợt tiến công chớp nhoáng sang Lào. Trong lịch sử quân sự Việt Nam cũng như thế giới ít có đơn vị nào như bộ đội Ðại đoàn 308, 4 giờ chiều Ðại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ nhận lệnh mở cuộc tiến công ở mặt trận Thượng Lào, lương thực chưa có, nhưng không hề kêu ca, lập tức lên đường. Chỉ 12 ngày đã tiến 200 km, vừa hành quân (đi bộ) vừa tiến công địch.
- Hình thức và nghệ thuật tác chiến rất phong phú, tiêu biểu nhất là ở đồng bằng Bắc Bộ. ở khu 4, chỉ với một tiểu đoàn 436, bộ đội ta len lỏi theo đường Trường Sơn, luồn sâu đánh căn cứ A-tô-pơ của địch ở Hạ Lào, làm rã hết quân Pháp tại đây. Hay ở khu 5, địch mở chiến dịch át-lăng đánh chiếm đồng bằng khu 5, chúng ta không dùng chủ lực đánh lại mà mở hướng tiến công lên Tây Nguyên, giải phóng Plây Cu, Kon Tum.
Ðồng chí Trần Văn Quang cho biết: Lâu nay chúng ta thường nói chiến dịch Ðiện Biên Phủ là 55 ngày đêm, thực tế là 5 tháng, từ tháng 12-1953. Các sử gia Pháp cũng viết "150 ngày Ðiện Biên Phủ". Nói về sức mạnh của Quân đội Nhân dân, Thượng tướng Trần Văn Quang nói cô đọng trong mấy câu: Kiên quyết đánh địch; chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, dũng cảm chiến đấu, quyết chiến quyết thắng; kỷ luật nghiêm minh, tuyệt đối chấp hành nhiệm vụ; sáng tạo, thông minh trong chiến đấu. Ðồng chí cho rằng nói về Ðiện Biên Phủ, cần biểu dương sự đóng góp của TNXP, dân công hỏa tuyến. Riêng chiến trường Ðiện Biên Phủ, có năm vạn bộ đội thì 2,6 vạn dân công, chuyển ba vạn tấn hàng ra mặt trận. Mà mỗi cân gạo đến được Ðiện Biên Phủ cần 20 kg ở Phú Thọ, Thanh Hoá vì hậu phương cách mặt trận rất xa. Hậu phương trực tiếp của Ðiện Biên Phủ là nhân dân Sơn La, Lai Châu, Yên Bái, Phú Thọ. Riêng huyện Tuần Giáo (Lai Châu) đồng bào các dân tộc đã dành hết cho bộ đội, đưa 10 nghìn tấn lương thực, thực phẩm cho chiến trường. Nói về Ðiện Biên Phủ, cũng không quên sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu của Liên Xô, Trung Quốc và bạn bè trên thế giới.
Về sự chỉ đạo, chỉ huy của Ðảng ủy, Bộ Chỉ huy chiến dịch Ðiện Biên Phủ và Ðại tướng Võ Nguyên Giáp, đồng chí Trần Văn Quang nhắc lại ý nghĩa của việc chuyển phương châm tác chiến, từ "đánh nhanh, thắng nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc". Nếu chúng ta đánh ba đêm hai ngày thì chỉ phát huy được sức mạnh tại chỗ có ở thời điểm đó, chứ không có sức mạnh ở phía sau và các chiến trường phối hợp, và chắc không thể chiến thắng. Ðồng chí nêu rõ: Sức mạnh chiến tranh nhân dân là sức mạnh của chế độ dân chủ nhân dân, là sức mạnh của chính nghĩa, của khối đại đoàn kết toàn dân do Ðảng lãnh đạo. Sức mạnh đó tiếp tục được phát huy trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhất là trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975 và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ngày nay, chúng ta phát huy sức mạnh đó trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.
Ðiện Biên Phủ - nơi đối đầu lịch sử
Ði bộ đội năm 1944, mười năm sau trở thành Ðại đoàn trưởng Ðại đoàn 304, chiến đấu trên chiến trường Ðiện Biên Phủ, đồng chí Thượng tướng, GS Hoàng Minh Thảo đến dự cuộc gặp mặt, phát biểu ý kiến với nhận định: Ðiện Biên Phủ - nơi đối đầu lịch sử. Ðồng chí nói :"Ðông-Xuân 1953-1954 chủ trương chiến lược của ta vẫn là lấy rừng núi làm chính và đồng bằng là hướng phối hợp với rừng núi miền bắc là chính. Vì miền bắc Việt Nam là chiến trường chính. Sau chiến dịch biên giới 1950, ta mở các chiến dịch ở đồng bằng như Trung du, Hoàng Hoa Thám và Hà Nam Ninh đều không thành công nhưng chiến dịch Hòa Bình năm 1951 lại thắng lợi lớn. Chiến dịch Hòa Bình thắng lợi lớn và ta biết kết hợp rừng núi là chính và đồng bằng là phối hợp. Ba đại đoàn 308, 312, 304 và các binh chủng chủ yếu đánh ở miền núi Hòa Bình thắng lợi và một đại đoàn tăng cường đánh phối hợp ở đồng bằng là Ðại đoàn 320 và Ðại đoàn 316 (thiếu) cũng giành được thắng lợi. Các kinh nghiệm đó đã chỉ cho chúng ta biết rằng nhân tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa vẫn là một nhân tố quan trọng trong quyết định của thắng lợi theo truyền thống phương Ðông. Thường vụ T.Ư Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhận thức và chủ trương như thế. Ðại tướng Võ Nguyên Giáp và Bộ Tổng tham mưu là những người trực tiếp chỉ huy và điều hành biết rõ thắng, bại càng thấm thía chủ trương đó. Sau thắng lợi của chiến dịch Hòa Bình và Thượng Lào, năm 1951-1952 chủ trương chiến lược của ta trong Ðông-Xuân 1953-1954 vẫn là lấy miền núi là chính và đồng bằng là phối hợp. Chiến trường chính của ta hướng chiến lược chủ yếu vẫn là Tây Bắc và Thượng Lào. Chiến trường Tây Bắc đã có một số thắng lợi.
Mùa đông 1953 theo chỉ đạo của Bác Hồ, Bộ Chính trị và Ðại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ tổng tham mưu ta đã điều động các lực lượng ra đánh các chiến trường khác để phân tán chia cắt quân địch. Ðánh các nơi yếu nhưng hiểm yếu của địch về mặt chính trị, địch tất phải cứu. Ðánh vào các thị xã yếu ở Trung Lào, Hạ Lào và Tha Khẹt và A-tô-pơ và Kon Tum... Không cứu thì mất mặt về chính trị. Ðịch phải phân tán 70 tiểu đoàn cơ động trong tổng số 82 tiểu đoàn ra cứu các nơi bí mật đó. Do đó mà khó tập trung về Tây Bắc khi chúng chưa bị đánh.
Cuối 1953 khi Ðại đoàn 316 lên định giải phóng Lai Châu. Ðịch rút Lai Châu chaỵ về Ðiện Biên và một bộ phận chạy sang Thượng Lào, địch cho nhảy dù xuống Ðiện Biên Phủ để đón quân Lai Châu rút chạy. Ta đánh, quân địch ở Lai Châu rút chạy, địch nhảy dù thêm xuống Ðiện Biên là sáu tiểu đoàn và giữ ở đó, đồng thời cũng có ý định chặn đường quân ta tiến sang Thượng Lào. Từ đó mà có mầm mống để hình thành cuộc gặp gỡ nhau về chiến lược. Thực hiện chủ trương, ý định cũ, ta đưa thêm quân lên Ðiện Biên và đây là thời cơ để ta đánh Ðiện Biên Phủ giải phóng Tây Bắc, hoàn chỉnh vùng Việt Bắc thành căn cứ đủ rộng lớn vững chắc ở miền bắc Ðông Dương. Từ đây hình thành trận tổng giao chiến chiến lược và thành điểm quyết chiến chiến lược, cuộc đụng đầu lịch sử giữa ta và địch và từ đau xót ở Nà Sản mới có huy hoàng ở Ðiện Biên. Ðịch thấy quân ta lên Tây Bắc nhiều, chúng nhảy dù thêm xuống Ðiện Biên một số tiểu đoàn nữa thành 12 tiểu đoàn tổ chức thành một tập đoàn cứ điểm mạnh và mạnh nhất Ðông Dương. Ta quyết tâm đánh giải phóng Ðiện Biên để giải phóng Tây Bắc. Ðó là thời cơ để giải phóng Tây Bắc để hoàn chỉnh khu giải phóng bắc Việt Nam. Tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Ðiện Biên Phủ là một cuộc tổng giao chiến, là một cuộc đọ sức quyết liệt lớn về chiến lược để đánh bại ý chí xâm lược của địch và đưa cuộc chiến tranh giải phóng đến một bước phát triển mới. Ðó là một cuộc đụng đầu lịch sử.
| Ông Lê Hữu Đức. |
Trong cuộc đối đầu lịch sử đó, các dân tộc Ðông Dương đã giành được thắng lợi vẻ vang, chôn vùi vĩnh viễn chủ nghĩa thực dân cũ, cổ vũ các phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới; nhiều dân tộc cũng thoát khỏi ách lầm than đô hộ.
Trung tướng Lê Hữu Ðức, lúc bấy giờ là sĩ quan tác chiến Sở chỉ huy chiến dịch, nói thêm: Ðông-Xuân 1953-1954 là đỉnh cao nghệ thuật quân sự của Ðảng, Bác Hồ và Ðại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, đó như ngọn đuốc tỏa sáng. Chiến tranh nhân dân nhưng phải có nghệ thuật quân sự. Bốn nguyên nhân làm nên chiến thắng lịch sử Ðiện Biên Phủ là: Nhân dân, Ðảng, lãnh tụ và quân đội.
Thu hoạch lớn nhất trong đời làm Chính ủy
|
|
| Đồng chí |
Trung tướng Phạm Hồng Cư ngày tham gia chiến dịch mới 28 tuổi, là Phó Chính ủy Trung đoàn 36 thuộc Ðại đoàn 308, đánh phía tây Ðiện Biên Phủ. Ðến với cuộc gặp mặt, đồng chí tâm sự rằng là chính ủy, nên về với báo Ðảng thấy có ý nghĩa thật đặc biệt. Nếu hỏi ấn tượng gì sâu sắc nhất về cuộc chiến đấu và chiến thắng ở Ðiện Biên Phủ, thì -theo đồng chí Hồng Cư- là sự lãnh đạo của Ðảng và tư tưởng Hồ Chí Minh trong chiến dịch. Ðó chính là thu hoạch lớn nhất của người chính ủy trong suốt cuộc đời.
Kể những tích chuyện ở Ðiện Biên Phủ, đồng chí Hồng Cư nhắc lại câu chuyện "năm ngón tay huyền thoại" của Bác Hồ. Khi Bộ Chính trị họp tại Tỉn Keo tháng 10 năm 1953, nghe Ðại tướng Võ Nguyên Giáp báo cáo Na-va huy động quân mạnh nhất trong chiến tranh Ðông Dương, Bác Hồ giơ bàn tay rồi nắm lại: Ðịch tập trung lực lượng. Không sợ. Ta bắt chúng phân tán ra mà đánh! Năm ngón tay của Bác ứng với năm đòn chiến lược "tiền Ðiện Biên Phủ", là sự chỉ đạo sáng suốt nhất về chiến lược. Ngày xưa, Trần Hưng Ðạo xoay vần thế trận dẫn đến trận thắng quyết định. Ngày nay Hồ Chí Minh xoay vần thế trận, dẫn đến chiến thắng ở Ðiện Biên Phủ.
Trung tướng Hồng Cư kể thêm một tích về tư tưởng "đánh chắc thắng". Khi Ðại tướng Võ Nguyên Giáp đến chào Bác Hồ để lên đường đi chiến dịch, Bác dặn:
- Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh. Không chắc thắng không đánh.
Ðại tướng còn chút băn khoăn:
- Thưa Bác, mặt trận ở xa, làm sao xin chỉ thị được kịp thời?
Bác Hồ trả lời:
- Tướng quân tại ngoại. Bác trao cho chú toàn quyền quyết định. Có vấn đề gì khó khăn, bàn thống nhất trong đảng ủy, thống nhất với cố vấn thì cứ quyết định rồi báo cáo sau.
Chính vì thế, người chỉ huy mang nặng trách nhiệm khi phải quyết định một vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau. Ðại tướng Võ Nguyên Giáp được Bộ Chính trị và Bác Hồ tín nhiệm giao nắm quyền lực tập trung, về quân sự: Bộ trưởng Quốc phòng kiêm Bí thư Ðảng ủy Quân sự T.Ư, Tổng Tư lệnh quân đội, trực tiếp làm Bí thư Ðảng ủy kiêm Chỉ huy trưởng Chiến dịch Ðiện Biên Phủ.
Về tích "Quyết định khó khăn nhất của Ðại tướng", đồng chí Hồng Cư sôi nổi kể tiếp: Lúc đầu, chúng ta chủ trương thực hiện phương án "đánh nhanh, thắng nhanh", cố vấn Vi Quốc Thanh cũng đồng ý. Trong lúc đó, Ðại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ thị cơ quan tham mưu theo dõi chặt chẽ tình hình địch và thúc đẩy công tác chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch mở màn vào ngày 20-1-1954, nhất là việc kéo pháo vào trận địa.Ðoạn đường kéo pháo vào khá dài, dốc cao, vực thẳm, dự kiến hoàn thành 3 đêm, nhưng 7 đêm pháo vẫn chưa vào vị trí và thời gian nổ súng phải lùi lại 5 ngày, tức 25-1-1954. Trong lúc đó, địch tăng cường thêm quân và một tập đoàn cứ điểm kiên cố đã hình thành. Do một chiến sĩ ta bị địch bắt và phát hiện điện đài địch thông báo giờ nổ súng của ta, nên giờ nổ súng được lùi lại 24 giờ, tức 26-1-1954. Sau nhiều ngày đêm suy tính, nhất là đêm 25-1 hầu như không chợp mắt, Ðại tướng Võ Nguyên Giáp đi đến quyết định phải thay đổi cách đánh, vì địch không còn lâm thời phòng ngự, mà đã thành một tập đoàn cứ điểm kiên cố và phía ta có nhiều khó khăn chưa được bàn tính kỹ để tìm cách khắc phục. Sáng 26-1, Ðại tướng cùng đồng chí Hoàng Minh Phương gặp Trưởng đoàn Cố vấn Vi Quốc Thanh. Sau nửa giờ trao đổi, Cố vấn Vi Quốc Thanh đã nhất trí với sự phân tích, đánh giá của Ðại tướng và đồng ý hoãn cuộc tiến công, chuyển sang phương châm đánh chắc, tiến chắc. Ngay sau đó, Ðảng ủy mặt trận được triệu tập để thảo luận về thay đổi phương châm tác chiến. Lúc đầu, nhiều người chưa tán thành. Ðại tướng nhắc lại lời căn dặn của Bác Hồ "chắc thắng mới đánh". Các đồng chí có chắc thắng không? Mọi người thấy còn nhiều vấn đề chưa được giải đáp. Ðại tướng kiên trì thuyết phục, đi đến thống nhất. Trận quyết chiến Ðiện Biên Phủ được chuẩn bị lại theo phương châm đánh chắc, tiến chắc và đã đi đến thắng lợi ngày 7-5-1954, tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Ðông Dương của thực dân Pháp. Theo hồi ký của Ðại tướng Võ Nguyên Giáp, đây là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của ông. Nhiều đồng chí sau này thừa nhận nếu lúc đó ta "đánh nhanh thắng nhanh" sẽ thất bại và không chừng cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp phải kéo dài thêm nhiều năm.
Trung tướng Phạm Hồng Cư xúc động: Sau ngày chiến thắng, nhìn lại con đường nay chỉ đi có hai ngày mà quân và dân ta phải đi mất 55 ngày đêm, tôi nghĩ đến câu thơ của Chính Hữu lúc đó là Chính ủy Tiểu đoàn 302 ở Ðiện Biên Phủ:
Khi bạn ta lấy thân mình đo bước chiến hào đi
Ta mới biết giá trị từng thước đất
Chia lửa với Ðiện Biên Phủ
|
|
| Đồng chí |
Ðồng chí Nguyễn Quyết, quê ở Hưng Yên, tham gia cách mạng từ ngày còn rất nhỏ. Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tròn 23 tuổi đời, năm tuổi Ðảng, đồng chí đã là Bí thư Thành ủy Hà Nội. Tiếp đó, đồng chí tham gia đội quân Nam tiến và trở thành chủ nhiệm chính trị Liên khu 5 trong thời gian diễn ra Chiến dịch Ðiện Biên Phủ. Trải qua những năm tháng chiến đấu đầy cam go, thử thách, Ðại tướng Nguyễn Quyết đã đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội. Kể lại những ngày bộ đội Liên khu 5 phối hợp với Chiến dịch Ðiện Biên Phủ đánh Pháp, Ðại tướng Nguyễn Quyết cho biết: Cuối năm 1953, để chuẩn bị mở chiến dịch Át-lăng đánh chiếm vùng tự do Liên khu 5, quân Pháp gấp rút đưa các binh đoàn cơ động từ Pháp sang, từ Nam Triều Tiên về, từ Nam Bộ ra, Bình Trị Thiên vào cùng với các lực lượng tại chỗ hợp thành lực lượng tập trung tới 40 tiểu đoàn, một lực lượng lớn chưa từng có ở chiến trường Ðông Dương vào thời điểm đó.
Sau khi phân tích toàn bộ tình hình địch-ta, mối quan hệ giữa chiến trường đồng bằng và Tây Nguyên, mối quan hệ giữa tiến công lên Tây Nguyên và bảo vệ vùng tự do Liên khu 5, Bộ Chính trị đồng ý kế hoạch của Quân ủy T.Ư trong kế hoạch tác chiến Ðông-Xuân 1953-1954 ở chiến trường Liên khu 5 là :"Trong Ðông Xuân này, Liên khu 5 cần phải tập trung lực lượng tiến công lên Tây Nguyên, phát triển lên Tây Nguyên phải coi là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất; nhiệm vụ củng cố vùng tự do là nhiệm vụ quan trọng thứ hai".
Do chưa nhận thức được hết ý nghĩa chiến lược của việc tiến công lên Tây Nguyên và trước âm mưu chiếm vùng tự do của địch, trong cán bộ, nhân dân, kể cả trong một bộ phận cán bộ lãnh đạo còn có sự phân vân, lo ngại: nếu đánh lên Tây Nguyên mà không phá vỡ được thế trận của địch, không giành được một khu vực có giá trị chiến lược, mà để mất vùng tự do; hoặc ta chưa kịp đánh lên Tây Nguyên mà địch đã tiến công ra vùng tự do thì tình hình sẽ trở nên phức tạp. Từ đó, có ý kiến cho rằng, vẫn phải tập trung lực lượng củng cố căn cứ địa, xem nhiệm vụ bảo vệ vùng tự do Nam-Ngãi-Bình-Phú là quan trọng hơn cả.
Thấm nhuần và nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương của T.Ư, hội nghị Liên khu ủy và Bộ Tư lệnh Liên khu 5 đầu tháng 12-1953 quyết định:
1. Tập trung toàn bộ lực lượng chủ lực cho nhiệm vụ tiến công lên Tây Nguyên. Phải nắm chắc địch, ta, dự kiến mọi tình huống có thể xảy ra, đánh chắc thắng và thắng ngay từ trận đầu, kiên quyết đạt cho được mục tiêu đã đề ra.
2. Giao nhiệm vụ bảo vệ vùng tự do cho lực lượng địa phương, địch đánh đến địa phương nào, địa phương đó tự đối phó, tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận địch, kìm chân không cho chúng nhanh chóng mở rộng phạm vi kiểm soát, hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại do địch gây ra. Ðịa phương nào, địch chưa đến, phải tích cực động viên nhân dân phục vụ tiền tuyến.
3. Các chiến trường sau lưng địch tích cực đẩy mạnh chiến tranh du kích, đánh giao thông, bao vây đồn bốt, tổ chức đánh mạnh, không cho địch rút lực lượng đi nơi khác, đồng thời ra sức tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng du kích, vùng giải phóng.
Liên khu ủy phân công đồng chí Nguyễn Chánh, Bí thư Liên khu ủy, Chính ủy kiêm Tư lệnh Liên khu 5 làm Bí thư Ðảng ủy kiêm Chính ủy và Tư lệnh chiến dịch trực tiếp chỉ huy mặt trận Tây Nguyên. Tôi, Chủ nhiệm chính trị và anh Nguyễn Ðôn, Tham mưu trưởng quân khu lo thường trực chỉ huy ở Bộ Tư lệnh Liên khu và phụ trách chống chiến dịch Át-lăng của địch ở vùng tự do. Một thời gian sau, anh Nguyễn Ðôn cũng lên Tây Nguyên cùng với anh Nguyễn Chánh.
Liên khu ủy điều động 200 cán bộ tỉnh, huyện tăng cường cho bộ máy lãnh đạo dân công phục vụ mặt trận, đồng thời cũng điều động gần 200 cán bộ của Liên khu ủy và Bộ Tư lệnh Liên khu về các tỉnh tự do cùng cấp ủy, chính quyền và cơ quan quân sự địa phương làm công tác chính trị tư tưởng làm cho cán bộ, các LLVT và nhân dân nắm vững chủ trương của Ðảng, kiểm tra, đôn đốc việc xây dựng lực lượng, xây dựng làng chiến đấu, bố phòng chiến đấu, sẵn sàng đánh trả các cuộc tiến công của địch.
Trong khí thế chiến thắng của quân và dân ta trên khắp các chiến trường, để mở màn chiến dịch, ngày 1-1-1954, Ðảng ủy và Bộ Tư lệnh Liên khu 5 phát động phong trào thi đua đánh giặc lập công, giành cờ thưởng luân lưu "Quyết chiến, quyết thắng" của Bác Hồ trong LLVT toàn Liên khu.
Chiến dịch Xuân-Hè 1954 của quân và dân Liên khu 5, một trong những hướng quan trọng của cuộc tiến công chiến lược Ðông-Xuân 1953-1954 của toàn quốc, đã hoàn thành vượt mức nhiệm vụ được giao, là một đòn đánh mạnh góp phần làm thất bại âm mưu địch muốn bình định miền nam để rảnh tay tạo thêm và tập trung lực lượng tiêu diệt chủ lực ta ở chiến trường chính Ðiện Biên Phủ. Ðây là chiến thắng lớn nhất trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ở Nam Trung bộ, giải phóng toàn bộ tỉnh Kon Tum, phần lớn tỉnh Gia Lai, nhiều vùng đông dân khác ở nam Tây Nguyên và vùng bị chiếm ở đồng bằng ven biển, đánh bại hoàn toàn chiến dịch Át-lăng, một bộ phận quan trọng trong bước một của kế hoạch Na-va, giữ vững vùng tự do Nam-Ngãi-Bình-Phú, tạo ra thế trận tiến công rất thuận lợi ở chiến trường phía nam Liên khu 5 và đông bắc Cam-pu-chia.
Chiến dịch Xuân-Hè 1954 của Liên khu 5 phối hợp có hiệu quả với chiến trường chính Ðiện Biên Phủ, đánh bại kế hoạch Na-va, cố gắng cao nhất và cuối cùng trong cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, buộc thực dân Pháp phải ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ, lập lại hòa bình ở Ðông Dương.
Ðánh giá về chiến trường Liên khu 5, đồng chí Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã nói: "Ngay từ đầu cuộc kháng chiến, Ðảng bộ, đồng bào và chiến sĩ ta ở Liên khu 5 đã làm được một kỳ tích là giữa vòng vây bốn mặt của quân thù vẫn giữ được vùng tự do gồm gần trọn bốn tỉnh đồng bằng ven biển liên hoàn, không những đứng vững trước mọi o ép của địch mà còn xây dựng được cả một hệ thống chính quyền cách mạng hoàn chỉnh, có kinh tế tự túc ổn định, giáo dục phát triển, trong nhiều năm giữ vững giao thông với cực nam Trung Bộ, với Nam Bộ, thật sự đã trở thành một vùng hậu phương vững chắc cho kháng chiến lâu dài.
Nhắc đến những bài học của Chiến thắng lịch sử Ðiện Biên Phủ, Ðại tướng Nguyễn Quyết nhấn mạnh việc thay đổi phương châm tác chiến là sự sáng tạo "thiên tài" của Võ Nguyên Giáp, trên cơ sở thực tiễn chiến trường. Cách mạng là khoa học, là thực tiễn. Phải thực hiện nghiêm Nghị quyết, nhưng trong quá trình thực thi phải hết sức sáng tạo.
Thiếu tướng Châu Khải Ðịch, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 5, từng là "cán bộ" của trung đoàn mà đồng chí Nguyễn Quyết là Chính ủy, minh họa thêm câu chuyện về Liên khu 5 "chia lửa" với Ðiện Biên Phủ: Tôi là du kích Ba Tơ, sau gia nhập quân chủ lực. Cuối năm 1952, đang là đại đội trưởng thì được Quân khu gọi về giao nhiệm vụ xây dựng lực lượng tác chiến CK-oong (công kích số 1, tức đặc công như cách gọi bây giờ) cho các địa phương. Cách đánh của chúng tôi là đặc công mở cửa cho bộ binh đánh vào. Cuộc chiến đấu phối hợp với chiến trường chính (Ðiện Biên Phủ) rất ác liệt, chúng tôi nhủ lòng: Lúc cần, người cộng sản hy sinh nhẹ như lông hồng. Khi không cần thiết, một giọt máu cũng tiết kiệm. Cuộc chiến đấu còn dài lâu. Sau chiến thắng Ðiện Biên Phủ chúng ta lại bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước...
Ðồng chí Trần Công An (bí danh Hai Cà) quê ở Bình Dương, ra miền bắc học tập đến năm 1953, trở lại miền nam chiến đấu. Với nhiều chiến công nổi tiếng, đồng chí đã được Ðảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND. Khi kể về cuộc chiến đấu ở phân liên khu miền Ðông Nam Bộ phối hợp với "chiến trường chính" Ðiện Biên Phủ trong chiến cuộc Ðông-Xuân 1953-1954, đồng chí cho biết: Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị tháng 9-1953, tích cực chuẩn bị "đón thời cơ mới", tháng 10-1953 Phân liên khu ủy triệu tập hội nghị dân quân chính đảng và Bộ Tư lệnh Phân liên khu đề ra ba nhiệm vụ phối hợp với chiến trường chính: Giữ vững và đẩy mạnh chiến tranh du kích; củng cố và mở rộng căn cứ địa; đẩy mạnh công tác địch nguỵ vận làm tan rã hàng ngũ địch; đồng thời tiến hành vũ trang tuyên truyền về thắng lợi của ta trên chiến trường cả nước để động viên tinh thần và sự ủng hộ của quần chúng. Phân liên khu ủy phát động rộng rãi phong trào "thi đua yêu nước, giết giặc lập công, giành giải thưởng của Bác Hồ" trong toàn quân toàn dân; tổ chức chỉnh Ðảng, chỉnh quân, thi hành chính sách ruộng đất đúng đắn nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng, sức chiến đấu của toàn quân, toàn dân trong phân liên khu.
Ngày 13-3-1954, quân ta nổ súng tiến công Him Lam, mở đầu cho chiến dịch đánh tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Ðiện Biên Phủ. Chiến thắng trên các mặt trận Ðiện Biên; những tấm gương chiến đấu dũng cảm, sáng tạo, hy sinh anh dũng của cán bộ, chiến sĩ quân chủ lực Ðiện Biên Phủ làm nức lòng quân dân miền Ðông và cổ vũ toàn quân toàn dân trong công tác chiến đấu để phối hợp.
Ngày 7-5-1954, chiến dịch Ðiện Biên Phủ toàn thắng. Trung ương Cục miền Nam, Phân liên khu ủy miền Ðông chỉ đạo các địa phương "thừa thắng xốc tới", đẩy mạnh các hoạt động tiến công địch, tạo thêm thế cho cuộc đàm phán của phái đoàn Việt Nam tại Hội nghị Giơ-ne-vơ.
Các lực lượng vũ trang ở miền Ðông Nam Bộ tổ chức tiến công địch ở khắp nơi. Tiểu đoàn 300 Bà Chợ đánh sập đồn Phước Hải, bức rút nhiều đồn bốt, tháp canh ở huyện Long Ðiền - Ðất Ðỏ, bắn chìm một tàu chở toàn quân Pháp trên sông Lòng Tàu. Tiểu đoàn 303 Thủ Biên liên tục tiến công địch trên các đường giao thông số 1, số 20, số 13, số 16, tiêu diệt đồn Cầu Ðịnh, đồn Bến Tranh, đồn Cây Trắc. Tiểu đoàn 306 Gia Ninh phục kích tiêu diệt một đại đội địch ở nam Trảng Bàng, phá hủy kho bom Phú Thọ Hòa với hơn một triệu lít xăng dầu, 10 nghìn tấn bom đạn, diệt một đại đội lính Âu Phi; Thủ Biên tiến công bức rút đồn Gò Lũy, đánh bại âm mưu sử dụng lực lượng giáo phái chống phá kháng chiến. Tiểu đoàn 309 Mỹ Tho cùng lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương mở đợt tiến công hạ đồn bốt địch ở huyện Gò Công, bắt sống hơn 400 tù binh, bức rút gần 90 đồn bốt ở huyện Chợ Gạo... Cuộc tiến công tập đoàn cứ điểm Ðiện Biên Phủ toàn thắng có sức cổ vũ rất lớn tinh thần và quyết tâm của Ðảng bộ, quân và dân miền Ðông Nam Bộ.
Pháo binh ta lần đầu xuất trận, đánh giòn giã
| Đồng chí |
Ở tuổi 84, nhưng Thiếu tướng Nguyễn Quang Bích giọng vẫn sang sảng như ngày nào. Ông kể: Tôi là người Hà Nội, đi Nam tiến vào khu 5. Năm 1952 ra bắc dự Hội nghị du kích chiến tranh rồi được cấp trên giữ lại giao nhiệm vụ phụ trách pháo cao xạ. Tháng 10-1952, tập trung quân để xây dựng lực lượng. Lúc chúng ta chuẩn bị mở chiến cuộc Ðông-Xuân 1953-1954, đỉnh cao là Chiến dịch Ðiện Biên Phủ, các chiến trường đều gặp khó khăn do bị phi pháo của địch khống chế. ở Ðiện Biên Phủ, Na-va dựa vào không quân địch để tiêu diệt ta. Trung đoàn 367 được giao bắn rơi máy bay địch để bảo vệ bộ binh tiến công, để cắt đường tiếp tế bằng đường không của chúng. Nhiệm vụ quá nặng nề vì anh em chưa bắn máy bay bao giờ. Bộ đội ta lúc ấy hầu hết văn hóa thấp, có người chưa thanh toán xong nạn mù chữ, nay lại phải học những kỹ thuật phức tạp. Chúng tôi nghĩ cách dạy bằng thực tế, ra sân hướng dẫn, lấy que cắm và giải thích thế nào là tam giác đường đạn, tạm giác không gian... Ðại tướng Võ Nguyên Giáp luôn luôn dặn phải giữ bí mật việc ta có pháo cao xạ, để đúng giờ mở màn chiến dịch ngày 13-3-1954, pháo 37 ly mới xuất hiện, hình thành mặt trận đất đối không, góp phần tạo nên nhiều tầng hỏa lực: súng bộ binh, trung liên, 12 ly 7, 37 ly. Sau khi đánh đồi Him Lam, Ðộc Lập, pháo ta hình thành hai gọng kìm bao vây ngày càng chặt một số cứ điểm địch, ngày bắn máy bay, tối áp sát bắn máy bay vận tải không cho chúng thả dù tiếp tế. Có máy bay địch chở một tiểu đoàn lính Âu Phi tăng cường cho tập đoàn cứ điểm, nhưng do hỏa lực của ta đuổi, mà phải quay về.
Kinh nghiệm đánh địch bằng pháo cao xạ ở Ðiện Biên Phủ giúp lực lượng phòng không chủ động chuẩn bị cuộc chiến đấu chống không quân Mỹ xâm phạm vùng trời của Tổ quốc ta ngày 5-8-1964, bắn rơi tám máy bay Mỹ, tiến tới trận "Ðiện Biên Phủ trên không" ở thủ đô Hà Nội 12 ngày đêm tháng 12-1972.
| Đồng chí |
Ðại đoàn trưởng Ðại đoàn 351 Ðào Văn Trường, Tư lệnh pháo binh mặt trận Ðiện Biên Phủ, kể chuyện pháo binh nổ súng mở màn chiến dịch:
- 18 giờ 30 phút ngày 13-3-1954, sau khi cùng bộ binh ngăn chặn được quân địch, có xe tăng yểm trợ, từ Mường Thanh xông ra, địch phá trận địa xuất phát xung phong của ta, pháo binh được lệnh nổ súng, mở màn Chiến dịch Ðiện Biên Phủ. Ðồng chí Ðại tướng Tổng Tư lệnh trực tiếp gọi tôi, qua đường dây điện thoại giã chiến:
- Chuẩn bị sẵn sàng cả chưa?
- Báo cáo đồng chí! Tất cả các khẩu đội đã sẵn sàng. Các pháo thủ chỉ chờ lệnh là giật cò súng!
Ðại tướng nói tiếp:
- Chúc các đồng chí hoàn thành nhiệm vụ trong trận đánh đầu tiên, phối hợp đắc lực với bộ binh cho kẻ thù phải khiếp sợ pháo binh trẻ tuổi của Quân đội Nhân dân Việt Nam!
Nhưng thực tình mà nói, lần đầu tiên pháo mặt đất cỡ lớn 105 ly xuất trận, sự hồi hộp và nỗi lo của chúng tôi không phải là sợ địch mạnh hơn, phản pháo dữ dội hơn, như Pi-rốt tư lệnh pháo binh địch đã huênh hoang hứa với Na-va là sẽ làm câm họng pháo ta khi xuất hiện, mà nỗi lo lớn nhất lại là sợ "pháo ta đấm lưng quân ta" ở Him Lam! Vì tại đây, ta và địch chỉ cách nhau có vài chục hàng rào dây thép gai và một dãy lô cốt tiền tiêu! Mà tản xạ của đạn pháo 105 ly thì lại khá lớn. Còn nhiệm vụ áp chế sân bay, nhiệm vụ đánh phủ đầu trung tâm chỉ huy của địch ở Mường Thanh cũng rất quan trọng. Nhưng vẫn là thứ yếu!
May mà, ngay trong loạt đầu, Ðại đội pháo binh 806 của ta, với bốn viên đạn, đã bắn trúng hầm chỉ huy của Cụm cứ điểm tiền tiêu mạnh nhất của địch là Him Lam. Trung tá Gốt-xê, chỉ huy trưởng, cùng toàn bộ cơ quan chỉ huy cụm cứ điểm địch bị tiêu diệt.
Sau đó, với 20 viên đạn cấp tập, pháo binh của ta, ngay trong trận đầu, đã hoàn thành nhiệm vụ hợp đồng với bộ binh và cao xạ, tiêu diệt gọn Him Lam, mở đường tiến sâu vào lòng chảo Ðiện Biên. Trong trận mở màn này, cao xạ 37 ly của ta, lần đầu xuất trận, không những làm tròn nhiệm vụ bảo vệ không phận cho bộ binh và pháo binh, còn cùng lưới lửa của súng đại liên 12 ly 7, bắn rơi tại trận một máy bay tiêm kích của địch, làm quân ta nức lòng tin cậy ở hợp đồng binh chủng.
Qua điện thoại dã chiến, đồng chí Lê Trọng Tấn, Ðại đoàn trưởng Ðại đoàn 312, chỉ kịp khen: "Hoan hô 351", rồi chuyển máy liên lạc ngay vì còn phải trực tiếp chỉ huy chiến đấu.
Nhưng cũng từ giờ phút này, bộ binh, pháo binh và cao xạ của ta càng thân thiết, tin cậy lẫn nhau trong hợp đồng tác chiến, tiêu diệt gọn Phân khu Bắc gồm có ba cụm cứ điểm là: Him Lam, Ðộc Lập và Bản Kéo. Pi-rốt tư lệnh pháo binh địch, đã phải tự tự bằng một quả lựu đạn. Một phần vì không thực hiện được kế hoạch phản pháo, tiêu diệt "Pháo binh trẻ tuổi" của Việt Nam. Một phần, ngay từ trong đợt đầu bị ta tiến công, dự trữ đạn pháo 105 ly của chúng đã bị tiêu diệt quá nửa. Mặt khác, còn do pháo thủ chết quá nhiều. Theo tài liệu gần đây của Pháp, tổng cộng thiệt hại về người của chúng lúc này có thể đem tổ chức hoàn chỉnh 16 khẩu đội pháo 105 ly. Và điều này thật không dễ dàng được bổ sung tại trận như bộ binh...
Ðầu năm 1955, để chào mừng chiến thắng Ðiện Biên Phủ, chào mừng chiến thắng ngoại giao Giơ-ne-vơ, chào mừng "Miền Bắc" trong đó có thủ đô Hà Nội đã được giải phóng, Ðảng và Nhà nước ta quyết định tổ chức duyệt binh và diễu hành ở Quảng trường Ba Ðình. Một lần nữa, đồng chí Quang Trung và đồng chí Ðào Văn Trường lại được chỉ định huấn luyện và chỉ huy bộ đội duyệt binh và diễu hành, trong đó có đoàn pháo 105 ly, cao xạ 37 ly và hỏa tiễn sáu nòng.
Trong buổi "tổng duyệt" cuối cùng ở sân bay Bạch Mai, chúng tôi vinh dự được đón tiếp Bác Hồ tới kiểm tra. Cùng đi còn có đồng chí Lê Liêm (Tổng cục Chính trị