Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ

Năn 1937, sáu tuổi, tôi bắt đầu vào học lớp Enfantin (lớp một bây giờ). Mẹ mất, kỷ niệm về Hà Nội thay bằng cha, cứ mỗi dịp Tết đến, ông lại mang tôi ra Hà Nội, sắm thêm chậu hoa, cây cảnh, lan, trà hoặc quất, rồi hai cha con lại ngồi xe tay cùng chậu hoa cây cảnh về làng.
Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ

Mười bốn tuổi, tôi thi đỗ vào Trường trung học Chu Văn An, kỷ niệm Hà Nội từ đó thay bằng những kỷ niệm tuổi học trò; trước hết là tiếng đàn pi-a-nô từ hiệu sách Ngoạn ở phố Cầu Gỗ, thường làm tôi ngẩn ngơ dừng lại, nhất là khi nghe bài Senenade của Shubert. Và xe điện với trò tinh nghịch tuổi học trò. Thật ra là ít tiền nên mới sinh chuyện đi chạc vé. Muốn chạc vé thì phải biết nhảy tàu, tập nhảy lên, nhảy xuống, ma mới học ma cũ, học cả thói nói khoảnh “Nhờ một tí !” Có một lần, đoạn qua phố Hàng Bông, một bàn tay vỗ mạnh vào vai tôi: “Vé đâu?”, đứng cạnh cửa là mấy nữ sinh, hơn nữa tính tôi vốn cẩn thận bao giờ cũng có tiền trong túi, tôi sĩ diện rút tiền ra ngay. Người soát vé tay cầm tiền, tay xé vé, mắt lườm lườm đưa vé rồi đi vào phía trong, hầm hầm đến thẳng chỗ một ông mãnh béo tốt, trắng trẻo, trạc tuổi tôi, chẳng biết học trường nào, đang bảnh chọe ở khoang hạng nhất trên chiếc sa-lông đệm nhung mầu mỡ gà. Ông mãnh còn đang ngơ ngác đã bị túm ngực dựng người lên: “Vé đâu?”. Bất chấp van xin rối rít, hắn lôi xềnh xệch cậu ta ra phía cửa. Nhìn cảnh đó, máu nghĩa khí nổi lên, tôi gạt tay người soát vé, rút tiền ra: “Tôi trả tiền mua vé hộ”. “Không trả hộ gì cả, vào bóp!”. Mấy nữ sinh đứng cạnh tôi nhao nhao phản đối: “Sao lại không, miễn là mua vé, vào đâu thì vào, sợ gì”. Cuối cùng chúng tôi thắng. Một kỷ niệm khó quên, và tôi đã biến anh chàng kia thành một người bạn, lại gặp nhau, học cùng trong vùng tự do kháng chiến, cùng công tác với nhau, chia sẻ ốm đau, rồi hòa bình lập lại, lại gặp nhau ở trường đại học, cùng yêu một cô gái đẹp trong truyện “Điệu săm ba” trên báo Văn nghệ.

Hồi đó Trường Chu Văn An chúng tôi học ở Trường Felix Faure, một trường nữ trung học của Pháp. Với tôi, đó là ngôi trường đẹp nhất Hà Nội, kể cả đến bây giờ, ở cuối đường Trần Phú, sau 1954 trở thành sứ quán Liên Xô và hiện giờ là trụ sở Bộ Tư pháp. Trước mặt trường là dãy tường cao tới hơn 3m, xám xịt, bờ tường nữ tu viện tua tủa mảnh chai, bây giờ chắc ít người ở Hà Nội biết. Mặc dầu lúc đó tôi mới mười bốn, mười lăm tuổi, nhưng bức tường luôn luôn ám ảnh tôi. Tôi luôn luôn thắc mắc bên kia bức tường, là những ai, còn trẻ hay đã già, người Pháp cả hay cả người Việt, tại sao họ lại tự nhốt mình trong đó, họ vui hay buồn, có nhớ nhà không?... Thật ra, vốn dĩ tôi vẫn như thế, luôn luôn tò mò, thắc mắc về cái bên kia, cái đằng sau của mọi vật, bên kia một dãy núi, đằng sau một lũy tre, bên kia tất cả những gì bị che khuất? Đầu tháng 12-1946, Hà Nội căng thẳng không khí chiến tranh. Xe bò chở tủ chè, sập gụ, hòm xiểng, đồ đạc trên đường phố Trần Nhật Duật lên cầu Long Biên. Dân quân Phúc Xá đào đắp ụ chiến đấu trên cửa đê. Xe tải Pháp chở cát có lẽ để xây công sự phóng bạt mạng trên đường phố! Trên xe lính Pháp cười hô hố, bốc cát ném vung vãi xuống đầu tóc, mặt mũi người đi đường. Tôi đến trường, không còn một bóng người. Ngày 13-12, cha tôi cho người ra gọi bắt tôi phải về ngay. Tôi về người không, không mang theo sách vở, chăn màn, quần áo, định bụng lại ra tham gia kháng chiến. Nhưng ngày 15-12, giặc chiếm Gia Lâm, đường tắc, tàu ngừng chạy, không ra được. Coi như xa Hà Nội từ ngày hôm ấy!

Xa Hà Nội, ngoài vùng kháng chiến, tôi lại tiếp tục đi học. Rồi 1950, rời trường chuyên khoa, công tác kháng chiến. Đến đâu tôi cũng gặp người Hà Nội, người bán hàng xén, người mở cà-phê giải khát, người vẫn còn mặc chiếc áo đoạn dài, mang theo cả vú già mở quán cơm ở Thái Nguyên, Quan Triều, Bờ Đậu, Cù Vân, Cao Vân, Tuyên Quang... Đáng nhớ nhất là giữa thu năm 1949, tôi và Nguyễn Hoàn (Tổng Giám đốc đầu tiên của Triển lãm Việt Nam) lúc đó đang học chuyên khoa Toán, ra chợ Hoàng Vân chơi. Tôi và Hoàn từ lớp đệ tứ đã được bầu làm chủ nhiệm và chủ bút đặc san Tre Xanh của lớp, còn nhớ đã bàn nhau để nguyên, không cắt sửa hai câu thơ của Bích Thuận (sau này là Phó Giám đốc Nhà xuất bản Phụ Nữ):

Hồn dâng cao, sức mạnh dám nhiều khi

Xây lý tưởng trên lâu đài máu đỏ.

Hơn sáu mươi năm rồi, không hiểu tại sao, tôi vẫn không quên hai câu thơ đó.

Ở chợ Hoàng Vân, tôi và Hoàn gặp một chiếc chiếu bày la liệt sách dưới một gốc cây to. Chủ nhân là một người đàn ông ba nhăm, ba sáu, không cần hỏi cũng đoán được là người Hà Nội, sau gần ba năm tản cư, chắc đã cạn tiền, tư trang, đồ quý chắc cũng đã lần lượt ra đi, còn thứ quý nhất nhưng cũng cồng kềnh và nặng nề nhất đành dứt bỏ để theo đuổi kháng chiến. Tôi và Hoàn mỗi người chọn mua một cuốn. Vì túi tiền học trò chỉ đủ sức đam mê đến thế, Hoàn chọn cuốn Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, còn tôi cuốn Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, bản giấy dó có minh họa của Nguyễn Đỗ Cung, vì trước đó tôi đã từng đọc Chiếc lư đồng mắt cuaChùa Đàn, Tóc chị Hoài của ông. Giá bây giờ tôi và Hoàn còn hai cuốn đó nhỉ! Nhưng đã hơn sáu mươi năm rồi còn gì, nơi gia đình tản cư, nơi học, nơi công tác đã bao lần thay đổi, riêng trong kháng chiến chống Pháp đã đi bộ hàng vạn cây số, leo núi băng rừng, thì còn giữ nổi cái gì, kể cả cái lọ hoa mẹ mua ở Godard bị gà nhảy vỡ, cái triện đồng hình bầu dục khắc tên mẹ Propriétaire (chủ doanh nghiệp) Ngô Thị Ngữ, kể cả cuốn gia phả dòng họ, văn tự nhà đất cũng không còn và ngôi nhà khang trang to rộng cũng bị Tây phá rỡ tan hoang.

Năm 1952, tôi lên công tác tại thị xã Hà Giang, và không ngờ tại cái thị xã xa xôi heo hút đó, tôi lại gặp khá nhiều người Hà Nội...

Kháng chiến thắng lợi, hòa bình lập lại, Ủy ban tỉnh Hà Giang cho khênh chiếc máy phát magneto và chiếc radio ra bưu điện thị xã, mọi người thay phiên nhau quay máy magneto để được nghe bản tin và tiếng hát ấm cúng của ca sĩ Trần Thụ.

Cuối năm 1954, tôi được trở về học đại học. Gần tám năm ở rừng, ở núi, trở về Thủ đô, cái gì cũng lạ lùng bỡ ngỡ. Lúc đó tôi mới hai mươi ba tuổi, rồi cũng nhanh chóng thích nghi với hoàn cảnh mới, môi trường mới, với ngôi trường Đại học Đông Dương, với rạp chiếu phim, với Nhà hát Lớn, với Thư viện Quốc gia. Tôi thích sự yên tĩnh để chứng nghiệm và chứng giải tâm hồn, điều mà hiện nay Hà Nội trở thành hiếm hoi, kể cả ở đền chùa miếu mạo, chỗ nào cũng vàng son sắc mầu rực rỡ quá, lóng lánh quá, ồn ào quá, linh đình quá, không tìm đâu ra một nét rêu phong, và tôi bỗng nhớ cái tiếng rao đêm vang vọng “Phơ... phơ” rồi giật lên như một dấu syncope trong một bản nhạc trầm lắng “Phở bò đi !” của một gánh phở rong, mùi nước dùng pha mùi gừng, mùi khói củi gộc, có thể vương cả mùi thân phận của người bán phở, bao nhiêu cảm giác khác nhau trong bát phở. Bây giờ người ta cũng nói nhiều đến phở và coi như nét đặc trưng ẩm thực của Hà Nội, phở Vuông, phở Tròn, phở nọ phở kia, nhưng ngoài cái khía cạnh vị giác của phở, không còn gì thêm nữa.

Từ số nhà 48 Trần Nhật Duật ra đi kháng chiến, tám năm sau trở về Hà Nội là ở nhờ nhà 248 Bà Triệu, số điện thoại cố định hiện nay cũng tận cùng bằng 248. Từ số nhà 12 Quán Thánh, Ba Đình, sinh con đẻ cái ở đấy rời khỏi Hà Nội thời chống Mỹ, gần ba mươi năm sau lại trở về số nhà 12E Ngọc Hà, Ba Đình, cứ như con tằm đến thác vẫn còn vương tơ, mất mất, còn còn nhưng không dứt được.

Mất đi cái Nữ Tu viện cuối đường Trần Phú để trở thành một nửa của bệnh viện Saint Paul hiện nay là một điều hay, mất đi cái Maison Centrale (Hỏa Lò) để thành Hà Nội Tower là một điều tốt, mất đi cái Cimetière Francaise ở đầu đường Quán Thánh để trở thành Trung tâm thể dục thể thao 10/10 và mất đi cái Cimetière Francaise ở phố Yên Bái để trở thành khu cư dân lại càng hay, chứ giữa Hà Nội vẫn còn lù lù hai cái bãi tha ma ấy thì...

Nhưng quên mất bài hát Chiều Hồ Gươm của nhạc sĩ Trần Thụ, “Hồ Gươm hôm nay chiều về thu, Làn nước lấp lánh có buồn không...” thì cũng tệ, và tôi không bao giờ quên người dân thị xã Hà Giang thay nhau quay máy magneto lấy điện phát giọng ca ấm áp của anh, buổi chiều chạng vạng cuối năm 1954...

"... Tôi thích sự yên tĩnh để chứng nghiệm và chứng giải tâm hồn, điều mà hiện nay Hà Nội trở thành hiếm hoi, kể cả ở đền chùa miếu mạo, chỗ nào cũng vàng son sắc mầu rực rỡ quá, lóng lánh quá, ồn ào quá, linh đình quá, không tìm đâu ra một nét rêu phong, và tôi bỗng nhớ cái tiếng rao đêm vang vọng “Phơ... phơ” rồi giật lên như một dấu syncope trong một bản nhạc trầm lắng “Phở bò đi !” của một gánh phở rong, mùi nước dùng pha mùi gừng, mùi khói củi gộc, có thể vương cả mùi thân phận của người bán phở, bao nhiêu cảm giác khác nhau trong bát phở."...

Có thể bạn quan tâm