- Nói thế là không hiểu gì về lúa lai; cả nước đang ăn gạo lúa lai và lúa lai chiếm tỷ trọng lớn trong sản lượng gạo xuất khẩu.
- Vậy, nên hiểu lúa lai thế nào?
- Lai tạo hai giống lúa khác nhau cho ra đời một giống lúa lai; nó chỉ có tác dụng một đời lai (F1). Chúng tôi không chỉ tạo ra các giống lúa lai, mà còn tạo các giống lúa tạp giao, giống lúa tiến bộ kỹ thuật và giữ ổn định một số giống lúa bố mẹ.
- Trong các giống lúa đó, giống nào dùng cho xuất khẩu?
- Các giống HYT 83, HYT92, HYT 100, IR64, OMCS 96, OM 3007-16-27, OM 2031... đều là giống lúa phục vụ xuất khẩu.
- Giống lúa nào dùng cho chăn nuôi?
- Giống nào cũng có thể dùng cho chăn nuôi, nhưng chủ yếu là các giống Bắc ưu 253, 903, Nhị ưu 838, Nhị ưu 63, D.ưu 527... là những giống lúa có năng suất cao, nhưng chất lượng gạo thấp.
Chúng tôi cũng đã tham khảo một số quầy bán gạo ở Hà Nội, thấy các nhà hàng thường trộn các loại gạo lúa lai để tăng hương vị và giá trị gạo. Không có chuyện lúa lai chỉ dùng cho chăn nuôi.
Hiện nay, nước ta đã chọn tạo được 45 giống lúa và có thêm ba giống lúa mới (VN 20, TH3-3, HYT), thay thế 20% giống lúa nhập khẩu; tạo được bốn giống ngô, nâng tỷ lệ sử dụng giống ngô mới từ 30-40% lên 70-80% diện tích, thay thế một phần nhập khẩu ngô giống, đạt mục tiêu sản xuất một triệu ha ngô và đưa năng suất ngô từ 1,5 tấn/ha lên 3,5 tấn/ha. Tại đồng bằng sông Cửu Long, chương trình đã đưa vào sản xuất 10 giống lúa ngắn ngày đạt tiêu chuẩn chất lượng xuất khẩu, nâng tỷ lệ giống lúa xác nhận từ 5-7% lên 30% diện tích, góp phần đưa năng suất lúa tăng 100 kg/ha/năm và tăng giá trị gạo xuất khẩu 10 USD/tấn.
Ngày nay, hiếm có ruộng lúa nào còn nhiều tầng, nhiều giống. Mặt khác, mỗi năm diện tích lúa giảm hàng chục nghìn ha cho xây dựng cơ bản, khu công nghiệp; chính nhờ các tiến bộ về giống mà sản lượng lương thực cả nước liên tục tăng, an ninh lương thực giữ vững.
| Ngày 10-12-1999, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 255/1999/QÐ-TTg, phê duyệt Chương trình giống cây trồng, vật nuôi và giống cây lâm nghiệp thời kỳ 2000-2005. Bước đầu, chương trình đã giải quyết căn bản tình trạng giống yếu kém sang mặt bằng giống mới có năng suất, chất lượng cao, là bước đột phá trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta. Với 395 dự án (trồng trọt 207 dự án, chăn nuôi 146 dự án và lâm nghiệp 42 dự án), chương trình trở thành yếu tố sinh học có tính quyết định trong tăng năng suất và chất lượng nông sản, lâm sản phục vụ xuất khẩu, thay thế giống nhập khẩu, gắn sản xuất với thị trường. |