Cô giáo bản Khe Ngài

Khi tách  về huyện ÐaKrông, Khe Ngài cũng vẫn là một trong những điểm trường khó khăn nhất. Chưa có cả một con đường để các phương tiện giao thông có thể đi vào bản, nên Khe Ngài hội đủ yếu tố của bản khó khăn nhất của một xã đặc biệt khó khăn...

Vậy mà thật bất ngờ, ngay tại vùng núi rừng heo hút này, chúng tôi được gặp một cô giáo mới ngoài 40 tuổi đời,  nhưng đã có 23 năm bám trường, bám lớp. Cô vốn là người gốc thị xã Ðồng Hới, tỉnh Quảng Bình.

Cô giáo đầu tiên của bản Khe Ngài

Tốt nghiệp Trường CÐSP Quảng Bình năm 1983, cô giáo trẻ Phan Thị Pháp tạm biệt thị xã Ðồng Hới để bắt đầu hành trình với cái nghề mà cô đã ấp ủ bao năm nay của mình. Cô tự nguyện xin đi dạy học ở những vùng khó khăn nhất, kể cả những nơi chưa từng có lớp học, để đem cái chữ cho những trẻ em mà thế hệ cha mẹ, ông bà của chúng chưa từng may mắn. Huyện Hướng Hóa ngày ấy (nay là huyện Ða Krông) đã đón cô Pháp với vòng tay dang rộng nhất có thể. Nhiệm vụ của cô Pháp là vận động, thuyết phục bà con cho con cháu mình đi học. Mở được lớp học ở bản rồi, ban ngày thì cô dạy học cho trẻ con, ban đêm cô lại vận động người lớn, người già trong bản đến lớp để cô dạy chữ, xóa mù chữ cho họ.

Cô Pháp cho biết: Người dân tộc Vân Kiều rất ham học nên vận động không khó khăn là mấy, chỉ với điều kiện là không yêu cầu họ phải đóng góp tiền bạc vì đời sống ở đây còn quá khó khăn. Việc bỏ học giữa chừng cũng rất ít, chỉ những gia đình còn quá vất vả, không đủ ăn và đông con mới bắt con bỏ học. Còn hầu hết các gia đình đã cho con đi học là hoàn toàn tin tưởng và gửi gắm cho thầy, cô đến khi học xong mới thôi. Cô lao vào công việc với tất cả nhiệt huyết, sức trẻ và quan trọng hơn cả là lòng yêu nghề. Cô làm việc để vơi đi nỗi nhớ nhà, để cuộc sống ở cái bản nhỏ heo hút này đỡ buồn tẻ hơn.

Khe Ngài ngày ấy như một "ốc đảo", nhỏ, tách biệt hẳn với cuộc sống bên ngoài. Những ngày đầu tiên đến đây, sự xuất hiện của cô Pháp là một hình ảnh quá lạ lẫm, gây tò mò, ngạc nhiên cho bà con dân bản. Nhà cô ngày nào cũng chật kín người, từ già đến trẻ tụ tập. Sự bất đồng ngôn ngữ khiến cho cô không nói chuyện với bà con được nhiều và ngược lại, họ đến nhà cô đơn giản chỉ để "ngắm" một người con gái, một sự xuất hiện chưa bao giờ có ở Khe Ngài.

Việc đầu tiên cô Pháp làm là học tiếng người dân tộc Vân Kiều ở nơi đây. Khi có một vốn tiếng kha khá, có thể giao tiếp dễ dàng với bà con, cô Pháp bắt đầu nghĩ đến việc phải giúp dân bản thay đổi những thói quen, tập tục quá lạc hậu làm ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống. Ngày đó, người dân ở đây  ốm đau chỉ chữa bằng lá cây. Có người đẻ trong nhà được coi là một việc tối kỵ. Phụ nữ đến kỳ sinh nở được dựng cho một cái chòi lá ở bên ngoài, tự vượt cạn một mình. Nhà nào cẩn thận hơn một chút thì nhờ đến bà đỡ trong bản, "dụng cụ" để cắt rốn cho đứa trẻ vừa chào đời chỉ là một mẩu nứa. Tất cả mọi biến cố xảy ra trong bản, từ mất mùa đến đau  ốm... đều nhờ đến thầy cúng. Theo tập tục mọi người dân đều cởi trần. Mùa đông rét quá  thì cũng quấn chăn vào người chứ không mặc áo. Thấy cô giáo mặc áo, họ lạ lắm cứ đến nhìn tận nơi, rồi ai cũng muốn sờ vào vạt áo xem nó thế nào.

Cô Pháp quyết định dùng tiền lương của mình để mỗi lần về quê lại mua vải, loại vải rẻ tiền thôi để mua được nhiều. Rồi từng đêm, cô ngồi khâu áo cho bà con, từ người già đến trẻ nhỏ đều được cô áng chừng khổ người rồi khâu cho mỗi người một chiếc áo. Khâu áo xong rồi, cô lại phải dạy bà con cách mặc áo, để họ thành thói quen  phải mặc áo vừa để che thân, vừa để giữ ấm cho cơ thể khỏi đau ốm. Thời gian đầu, việc mặc áo khiến bà con vướng víu, khó chịu, cô Pháp phải động viên, nhắc nhở họ liên tục. Vả lại, hình ảnh của cô giáo Pháp trẻ trung với cách ăn mặc đẹp quá khiến bà con cũng muốn bắt chước và làm theo.

Ðồng thời cô cũng nỗ lực thay đổi cách ăn uống của họ. Người dân ở đây trước khi cô đến vốn chưa từng biết đến cách ăn cơm bằng đũa. Ðến bữa ăn họ mời cô: "tổ cha cô" rồi bốc cơm chấm với muối ăn ngon lành. Cô Pháp giật mình tự ái, tấm tức vì không hiểu sao họ lại chửi mình. Hỏi ra cô mới biết, tiếng của đồng bào tổ tức là chấm, cha là cơm, có nghĩa là: bốc cơm mà ăn đi. Những lần sau đó về quê, cô lại tha từng đôi đũa về bản và kiên trì bày cho bà con cách ăn cơm bằng đũa.  Cô cố gắng giải thích để bà con hiểu tác dụng của ăn cơm bằng đũa với những từ ngữ dễ hiểu. Rằng ăn cơm bằng đũa thì không bị đau bụng, không có con giun nó quậy phá ở trong bụng mình... Bằng sự kiên trì của mình, cô đã thuyết phục được bà con, cùng với bà con tự vót đũa để dùng. Tre gỗ ở đây thì nhiều, bà con cũng thấy ăn cơm bằng đũa quả là sạch sẽ và cũng chẳng khó khăn gì.

Thay đổi được cách ăn, cách mặc cho bà con, cô Pháp lại quay sang bày cho bà con cách gieo trồng, thu hoạch lúa, cô cùng với bà con khai hoang để làm những thửa ruộng bậc thang, đưa nước về để tưới tiêu. Mùa gặt, bà con cứ mải mê dùng tay để tuốt từng bông lúa, mất

rất nhiều thời gian mà bàn tay người dân thì tứa máu vì trầy xước. Cô lại hướng dẫn bà con cách gặt lúa bằng liềm rồi đem về chỗ đất bằng phẳng, sạch sẽ để đập. Lúc đầu bà con phản đối quyết  liệt  lắm,  nhiều  người  già trong bản bảo rằng "hạt lúa là hạt ngọc, không thể đập vào đá để nó bong ra được mà phải tuốt bằng tay, đập như thế là phải tội với trời...". Phải mất nhiều thời gian cũng như sự kiên trì, cô Pháp mới thuyết phục được bà con làm theo cách đó...

Bản nhỏ như một ốc đảo cách biệt với cuộc sống bên ngoài. Cô Pháp lại là người "mang cái Tết" về cho bà con. Cô dạy bà con cách làm bánh chưng để ăn Tết. Cô giải thích cho bà con vì sao lại phải ăn Tết Nguyên đán, vì sao phải làm Tết Trung thu... Những cái Tết đầu tiên của bà con là cái Tết được tổ chức tại nhà cô giáo Pháp. Cả bản nhỏ kéo đến nhà cô để ăn Tết, để học cách làm cỗ cúng ông bà, tổ tiên. Giờ đây những cái Tết cổ truyền ấy đã trở thành những ngày đáng nhớ, những ngày đoàn tụ, sum vầy của mỗi nếp nhà... Bà con bảo nhau: Nhờ có cô Pháp...

Vì sao ?

Năm nay là 23 năm cô Pháp bám trụ tại nơi này, âm thầm, lặng lẽ làm tất cả mọi điều để bà con nơi đây có cuộc sống tốt đẹp hơn mà không đòi hỏi gì cho bản thân mình. Có người bảo: Vì cô lấy chồng ở đây. Nhưng chắc chắn đó không phải là lý do duy nhất. Cô hoàn toàn có thể chuyển cả gia đình của mình ra trung tâm xã vì chồng cô là Phó Chủ tịch HÐND xã Ða Krông, cô hoàn toàn có quyền được chuyển ra trường chính, khang trang, sạch đẹp sau quá nhiều năm cống hiến ở nơi khó khăn nhất của xã. Nhưng cô chưa từng một lần đưa ra những yêu cầu chính đáng đó. Hai đứa con của cô do nhu cầu học lên cao đã phải gửi về quê ngoại nhờ ông bà chăm sóc. Những ngày đầu mẹ con xa nhau, cô đã khóc cạn  nước mắt. Không khóc sao được khi chia tay con để về lại cái bản heo hút này, hai đứa con cô đã vùng khỏi vòng tay của ông bà để chạy theo mẹ và gọi: "Mẹ ơi, cho con về với mẹ, con chỉ muốn ở với mẹ thôi"... Cô Pháp đã phải bao lần gạt nước mắt mà không dám ngoảnh đầu lại, sợ rằng không bước đi nổi.

Giờ đây cô Pháp đã trở thành chỗ dựa tinh thần của cả bản Khe Ngài. Ngoài việc dạy chữ, dạy kiến thức cho học sinh, cô còn là nơi để bà con chia sẻ, tìm ý kiến khi gặp bất cứ khó khăn, trở ngại nào trong cuộc sống. Chồng là cán bộ xã phải đi làm từ sáng sớm đến tối mịt ở trung tâm, một mình cô ở nhà đảm nhiệm việc chăm sóc, phụng dưỡng bố mẹ chồng. Bố chồng cô đã bước sang tuổi 105, mẹ chồng cô cũng gần 90 tuổi. Vẫn những bữa cơm dẻo, canh ngọt. Vẫn những giờ lên lớp đều đặn, cần mẫn. Bản Khe Ngài dường như không thể thiếu được cô...

Câu hỏi vì sao cô Pháp lại được bà con người Vân Kiều ở bản Khe Ngài yêu quý, kính trọng như một già làng thực thụ, đến nỗi bất cứ nhà ai có công to việc nhỏ  gì đều hỏi ý kiến của cô, nhờ cô giúp đỡ hoặc chỉ dẫn là câu hỏi hoàn toàn có thể lý giải được. Nhưng: Vì sao cô Pháp lại gắn bó, yêu thương cái mảnh đất này đến thế?

Câu hỏi "Vì sao?" của chúng tôi được cô giải thích đơn giản: Tôi đã gắn bó máu thịt với mảnh đất, con người ở nơi đây. Tôi đã bốn lần đau ốm tưởng như không thể sống nổi và đã được bà con cứu chữa bằng những phương thuốc gia truyền của mình. Tôi đã "nợ" bà con quá nhiều. Nếu ra đi tôi sẽ là người có tội...

Sau tiếng trống trường rộn rã là những buổi học đều đặn. Năm học 2006 - 2007, điểm trường Khe Ngài có ba lớp học: lớp 1, lớp 2 và lớp 4. Chúng tôi thắc mắc: Còn lớp 3 và lớp 5? Thầy hiệu trưởng giải thích: Do lớp 3 và lớp 5 số lượng học sinh năm nay quá ít nên đành gửi các em sang lớp học của các thôn bản bên kia sông để học; Lại hỏi: Vì sao không ghép lớp? Thầy hiệu trưởng tâm sự: Cơ sở vật chất còn tạm bợ quá, phương tiện dạy học cũng chẳng đủ, nếu cứ ghép lớp thì chất lượng học tập sẽ càng không bảo đảm. Các em phải đi học xa hơn đúng là khổ, nhưng nếu để một số ít được đi học gần mà kéo theo cả lớp học không được học đến nơi đến chốn thì còn áy náy hơn.

Chúng tôi chợt hiểu tâm tư của những người thầy ở nơi đây. Hơn ai hết, họ trải qua sự chật vật của việc mở được lớp học, giữ chân được cả thầy và trò. Trên vách của lớp học không treo khẩu hiệu như "Thi đua dạy tốt, học tốt" hay "Tất cả vì học sinh thân yêu"... nhưng trong tấm lòng và lương tâm của những người thầy từ miền xuôi lên đây thì họ không cho phép mình được làm mất niềm tin và sự kính trọng mà đồng bào trong bản gửi gắm.

Có thể bạn quan tâm