Gia tăng số vụ bất hợp pháp
Báo cáo đệ trình tại Hội nghị các nước thành viên CITES tại Thái Lan cho biết Malaysia, Phillippines, Việt Nam và Hồng Công (TQ) đã phát hiện và bắt giữ 21 vụ vận chuyển ngà voi bất hợp pháp, chiếm 60% các vụ trên thế giới (tổng cộng 41,1 tấn ngà voi) kể từ năm 2009 đến nay.
Theo Cơ quan Hải quan Hồng Công, năm 2011 Hồng Công chiếm 8% các vụ bắt giữ toàn cầu. Các thị trường tiêu thụ chính là Thái Lan và Trung Quốc.
Hồng Công được xác định là thị trường đầy tiềm năng trước khi xuất hiện lệnh cấm buôn bán ngà voi trên toàn thế giới vào năm 1990. Richar Thomas, người phát ngôn của Traffic khẳng định “Hồng Công vừa là nơi trung chuyển trực tiếp ngà voi vào các nước châu Á từ châu Phi hoặc từ các nước khác ở châu Á. Các vụ bắt giữ tại đây đã đưa ra những chỉ dấu của các tổ chức tội phạm”.
Năm 2011, Hồng Công đã bắt giữ ba tấn ngà voi và năm 2012, trong báo cáo gửi Ban thư ký CITES, hơn năm tấn ngà voi có nguồn gốc từ Kenya và Tanzania. Trước đó, 2009 là năm kỷ lục khi toàn thế giới bắt giữ gần 38 tấn ngà voi.
Ước tính các vụ bắt giữ có trọng lượng hơn 800kg trở lên tăng đều trong thời gian gần đây: bẩy vụ (năm 2009), chín vụ (năm 2010) và 17 vụ (năm 2011) với tổng cộng 61 tấn.
Năm 2011, Trung Quốc đã bắt giữ 2.000 vụ với 28 tấn ngà voi. Các con đường vận chuyển tới Trung quốc đều xuất hiện qua Lào và Campuchia. Theo Traffic, hơn 25.000 cá thể voi châu Phi đã bị giết hàng năm. Hiện quần thể voi châu Phi ước chừng 650.000 cá thể nhưng số lượng trên đang suy giảm nhanh chóng do nhiều cách thức săn bắt. Trước khi lệnh cấm buôn bán ngà voi được ban hành, ước tính voi châu Phi đạt 1,3 triệu cá thể.
Nhu cầu lớn
Lệnh cấm xuyên quốc gia đối với buôn bán ngà voi đã được thiết lập vào năm 1983 nhằm bảo vệ voi châu Phi khi chuyển loài voi này từ Phụ lục II sang Phụ lục I CITES. Lệnh cấm này ngay lập tức có tác dụng lớn trên các thị trường chính ở Nhật Bản, Hồng Công và Đài Loan. Kể từ đó trở đi, việc chế tác ngà voi hoàn toàn biến mất.
Năm 1997, Hội nghị các nước thành viên CITES cho phép việc buôn bán ngà voi từ các kho lưu giữ của Bostwana, Zimbabwe và Namibia dưới sự giám sát chặt chẽ. Điều này cho phép Nhật Bản nhập khẩu 4,9 tấn ngà voi trị giá 5 triệu USD vào năm 1999. Lệnh cấm tiếp tục được nới lỏng vào năm 2002, cho phép Trung Quốc và Nhật Bản nhập khẩu 107 tấn ngà voi thô vào năm 2008 với tổng giá trị lên đến 15,5 triệu USD. Kết quả là qua nhiều năm, thông qua việc xuất khẩu ngà voi, một số quốc gia châu Phi đã làm suy giảm chính quần thể voi châu Phi bản địa.
Tuần này, Hội nghị các nước thành viên CITES sẽ thảo luận về xây dựng cơ chế giải quyết vấn đề buôn bán ngà voi trong tương lai. Trong ngày 13-3, Hội nghị đã thống nhất đưa các mẫu ngà voi bị tịch thu đi giám định AND để xác định nguồn gốc nhằm tăng cường các biện pháp chống buôn bán bất hợp pháp ngà voi. Theo một nghị quyết được toàn thể 178 đoàn đại biểu tham dự Hội nghị tán thành, để chống buôn bán bất hợp pháp ngà voi, một quốc gia phát hiện ít nhất 500 kg ngà voi nên đưa mẫu đi phân tích trong 90 ngày.
Keny chính là quốc gia đề xuất giám định AND đối với ngà voi bị tịch thu và theo Patrick Omondi, trưởng đoàn đại biểu Kenya tham dự Hội nghị, Kenya hoàn toàn có khả năng tìm ra xuất xứ của ngà voi nếu thực hiện giám định AND.
Theo Peter Pueschel, thành viên Quỹ quốc tế về Quyền lợi động vật, các phòng thí nghiệm hiện đại có thể xác định chính xác nơi voi bị giết và các thí nghiệm sẽ giúp phát hiện người trung gian và người cầm đầu các tổ chức tội phạm, xác định các điểm nóng về săn bắt bất hợp pháp.
Theerapat Prayurasiddhi, Phó Cục trưởng Cục Các loài hoang dã và các Vườn quốc gia (DNP) Thái Lan khẳng định du khách sẽ bị điều tra tại sân bay Thái Lan hoặc tại quê hướng nếu có những bằng chứng cho thấy họ cố gắng mang các sản phẩm ngà voi ra khỏi Thái Lan.
Ông Theerapat Prayurasiddhi cũng cho biết sẽ đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường Thái Lan chấp nhận kế hoạch hành động nhằm ngăn chặn các hoạt động buôn bán bất hợp ngà voi trước khi đệ trình lên Ban thư ký CITES trong thời gian hai tháng tới. DNP cũng yêu cầu các nhà buôn bán ngà voi báo cáo về số lượng ngà lấy từ các cá thế voi tại Thái Lan đồng thời các cơ sở chế tác ngà voi thuộc kiểm soát của chính quyền cũng phải chú thích rõ các thông tin trên các sản phẩm ngà voi.