Đến nay kinh tế nông thôn Hải Phòng đã có bước phát triển mới theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ. Chất lượng nguồn nhân lực ở khu vực này cũng được nâng lên, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động nông thôn.
Trong sản xuất nông nghiệp, cơ cấu cây trồng có sự chuyển dịch theo hướng tích cực. Nhất là phong trào "dồn điền đổi thửa" được thực hiện nghiêm túc ở tất cả các thôn, xã trong toàn thành phố, bước đầu khắc phục tình trạng manh mún trong sản xuất, tạo tiền đề cho quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất để tổ chức sản xuất hàng hóa nông sản quy mô lớn, có giá trị kinh tế cao. Nhiều khu vực nông thôn Hải Phòng đã và đang hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, tạo ra sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao, như các vùng chuyên canh rau ở Thủy Nguyên; cây công nghiệp truyền thống ở Tiên Lãng; hoa, quả và cây cảnh ở Hải An... Nhiều tiến bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ mới được tiếp thu và chuyển giao nhanh vào sản xuất, chủ yếu tập trung vào các khâu then chốt của sản xuất nông nghiệp, như sản xuất giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao; các khâu canh tác, chế biến, bảo quản nông sản hàng hóa... được thay thế bằng những trang thiết bị hiện đại, trước hết cho các vùng sản xuất giống, nơi sản xuất nông sản hàng hóa. Ðó là các thiết bị phục vụ tưới tiêu, các loại máy móc, như máy sấy, máy sàng, nhà lưới, kho bảo quản lạnh phục vụ luân chuyển và lưu giữ nông sản; các thiết bị phục vụ sản xuất theo công nghệ cao và chế biến... Nhờ vậy, sản xuất nông nghiệp Hải Phòng liên tục tăng, với mức tăng bình quân gần 4%/năm.
Cùng với sản xuất nông nghiệp, tại các vùng quê, kinh tế hợp tác xã, trang trại và hộ gia đình cũng được khuyến khích phát triển theo hướng công nghiệp, bán công nghiệp với quy mô trang trại và gia trại, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu. Toàn thành phố hiện có hơn 260 trang trại chăn nuôi lợn, gần 230 trại nuôi gia cầm và hơn 40 trang trại chăn nuôi bò, dê và gia súc khác. Trong đó có 15 trang trại chăn nuôi lợn theo phương thức gia công có quy mô từ 600 đến 800 con/lứa; gần 180 trang trại chăn nuôi gà, quy mô 3.000 đến 9.000 con. Ngoài ra, với lợi thế biển, đảo, Hải Phòng còn phát triển gần 400 trang trại nuôi trồng thủy sản, hơn 70 trang trại trồng trọt và hơn 100 trang trại tổng hợp kết hợp vườn-ao-chuồng (VAC). Trong đó, kinh tế thủy sản được tập trung phát triển theo hướng đẩy mạnh nuôi thâm canh công nghiệp, phát triển nuôi trồng và đánh bắt thủy sản trên biển. Một số mô hình như tập đoàn, hiệp hội trong lĩnh vực vận tải, đánh cá được hình thành và phát triển theo hướng giảm tàu nhỏ, tăng tàu xa bờ để tăng sản lượng đánh bắt cá xa bờ. Trong tổng số hơn 2.700 tàu đánh bắt thủy-hải sản, hiện có gần 300 tàu đánh bắt xa bờ có công suất từ 90CV trở lên. Cơ sở hạ tầng cảng, bến cá có khả năng tiếp nhận tàu cá cỡ lớn và các khu neo đậu tránh - trú bão cho tàu, thuyền... cũng được đầu tư xây dựng tại Trân Châu (Cát Bà, Cát Hải), Mắt Rồng (Lập Lễ, Thủy Nguyên), Ngọc Hải (Ðồ Sơn) và đảo Bạch Long Vỹ... ngoài ra còn có hàng chục vụng, vịnh, lạch, cửa sông... với sức chứa hàng nghìn phương tiện khai thác thủy sản, và cung cấp các dịch vụ về bến bãi neo đậu, xăng, dầu, nước đá, ngư cụ, thiết bị thông tin hàng hải, phụ tùng máy thủy, sửa chữa... Chẳng những đáp ứng nhu cầu của đội tàu thành phố cảng mà còn đủ khả năng phục vụ hàng chục nghìn phương tiện khai thác thủy sản của các tỉnh, thành phố đến sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, chế biến thủy sản cũng được quan tâm đầu tư, từng bước hiện đại hóa. Trong ba năm 2006-2008, đã có 30 đề tài, dự án nghiên cứu, ứng dụng và triển khai khoa học-công nghệ về nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy sản được Viện Nghiên cứu hải sản, Viện Tài nguyên-Môi trường biển và Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I triển khai thực hiện. Tại 27 trại sản xuất giống thủy sản năm 2008 đã sản xuất hơn 2.900 triệu cá giống các loại, 105 triệu con tôm và các giống thủy sản khác... Góp phần từng bước đưa Hải Phòng trở thành trung tâm sản xuất giống thủy-hải sản ở miền bắc.
Chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn cũng có bước thay đổi đáng kể. Toàn thành phố hiện có hơn 223 nghìn lao động tham gia vào hoạt động ngành nghề nông thôn. Nhiều thành phần kinh tế đẩy mạnh đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và xây dựng đô thị trên địa bàn, góp phần giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động nông thôn, đóng góp tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. So với ba năm trước (năm 2006), đến nay các cơ sở công nghiệp-TTCN vừa và nhỏ trên địa bàn nông thôn đã tăng từ 540 lên gần 800 doanh nghiệp. Trong đó các nhóm nghề dịch vụ nông thôn đang có xu hướng phát triển nhanh, nhất là dịch vụ cơ khí, bình quân mỗi năm thu hút thêm 15 nghìn lao động, với thu nhập bình quân từ 700 nghìn đến 1.000.000 đồng/người/tháng. Hiện Hải Phòng có 31 làng nghề, gồm 17 làng nghề truyền thống, 14 làng nghề mới. Trong đó, có năm làng nghề quy mô toàn xã và bảy làng nghề quy mô thôn đạt các tiêu chí của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, được thành phố công nhận.
Kết cấu hạ tầng xã hội nông thôn được quan tâm đầu tư xây dựng theo hướng hiện đại, tập trung vào các công trình chủ yếu như: Ðiện, đường giao thông, trường học, trạm y tế, hệ thống thủy lợi... Trừ huyện đảo Bạch Long Vỹ phải dùng máy điện sức gió kết hợp chạy dầu đi-ê-den để cấp điện, và huyện đảo Cát Hải còn 78 hộ dân của xã Việt Hải phải sử dụng máy phát điện tại chỗ, còn gần 245 nghìn hộ khu vực nông thôn Hải Phòng đã được cấp điện lưới quốc gia; 100% tuyến đường liên huyện đạt tiêu chuẩn cấp V đồng bằng; hơn 90% đường liên xã và đường thôn, xóm được trải nhựa hoặc bê-tông; hầu hết số dân nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh; 100% xã có nhà văn hóa và điểm bưu điện văn hóa.
Diện mạo nông nghiệp, nông thôn Hải Phòng đổi mới về cơ bản, không còn hộ đói, hộ nghèo giảm nhiều, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng lên, phấn khởi tin tưởng vào đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của Ðảng. Ðể chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất nông nghiệp, Hải Phòng đang tích cực triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương Ðảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Một là, tiếp tục đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Gắn chuyển dịch cơ cấu kinh tế với bố trí lại lao động, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống của nông dân. Sử dụng hiệu quả các nguồn vốn ngân sách đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội nông thôn, kết hợp khuyến khích doanh nghiệp đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ nông nghiệp, nông thôn.
Hai là, tổ chức nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng và có biện pháp giải quyết tốt mối quan hệ nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; giải quyết việc làm, chuyển đổi nghề, bảo đảm chế độ an sinh xã hội, ổn định cuộc sống nông dân khu vực phải thực hiện di dời, giao đất thực hiện các dự án...
Ba là, rà sóat điều chỉnh quy hoạch hệ thống cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn; tiếp tục khuyến khích phát triển trang trại, gia trại quy mô lớn, các làng nghề; đẩy mạnh phát triển các ngành nghề, tạo động lực để chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động.
Bốn là, bổ sung điều chỉnh quy hoạch phát triển ngành thủy sản; tiếp tục đầu tư, phát triển thủy sản theo hướng thâm canh, công nghiệp hóa; coi trọng phát triển lĩnh vực dịch vụ, nuôi trồng, chế biến; phấn đấu để ngành thủy sản phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn, là một trung tâm thủy sản về giống, thức ăn, khoa học-công nghệ, chế biến, xuất khẩu và dịch vụ hậu cần nghề cá của vùng duyên hải Bắc Bộ.
Năm là, tăng cường cơ sở hạ tầng, đẩy mạnh xây dựng đô thị nông thôn theo hướng đô thị sinh thái. Phát triển đô thị nông thôn gắn với chuyển đổi cơ cấu lao động, kết hợp đào tạo, phát triển nghề cùng với chuyển đổi các khu vực làng xóm, dân cư nông nghiệp thành dân cư phi nông nghiệp, đồng thời quan tâm công tác quy hoạch, quản lý đô thị nông thôn. Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội, bảo đảm yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới. Thực hiện tốt việc quản lý và điều chỉnh phân bố dân cư trên địa bàn.
KIỀU LINH ANH