Chủ quyền Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa được khẳng định qua mộc bản triều Nguyễn

Bên cạnh việc bảo quản an toàn loại tài liệu quý hiếm này thì Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước đã làm hồ sơ đề nghị đưa khối mộc bản triều Nguyễn vào chương trình "Ký ức thế giới" của UNESCO nhằm công nhận giá trị loại tài liệu này.

Hiện nay trên thế giới chỉ còn số ít nước còn lưu giữ được tài liệu mộc bản, trong đó tài liệu mộc bản triều Nguyễn của Việt Nam có niên đại hơn 200 năm và còn tương đối đầy đủ. Nội dung được phản ánh trong mộc bản triều Nguyễn rất phong phú gồm nhiều chủ đề như: lịch sử, địa lý, pháp chế, văn thơ, quân sự, văn hóa - giáo dục,... Trong tài liệu mộc bản triều Nguyễn có rất nhiều bộ sách giá trị như: Ðại Nam thực lục, Khâm định Ðại Nam hội điển sự lệ, Ðại Nam nhất thống chí, Ðại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục,... trong đó bộ sách Ðại Nam thực lục là bộ sách lớn nhất được Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn trong thời gian 88 năm (1821 - 1909). Ðây là bộ sách rất có giá trị, các nhà sử học khi nghiên cứu về lịch sử Việt Nam thì không thể bỏ qua được bộ sách này.

Ðại Nam thực lục là bộ sách ghi chép lịch sử Việt Nam dưới thời các chúa và các vua nhà Nguyễn từ chúa Nguyễn Hoàng đến vua Khải Ðịnh. Ðây là bộ sách có tính chân thật lịch sử. Bộ sách này phản ánh nhiều sự kiện xảy ra trong các thời chúa và vua triều Nguyễn trị vì đất nước, chúng tôi xin được giới thiệu hai văn bản trong tài liệu mộc bản triều Nguyễn có liên quan đến chủ quyền quần đảo Hoàng Sa dưới thời vua Minh Mạng, hai văn bản này nằm ở quyển 154 và 165 sách Ðại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ (ghi chép các sự kiện thời vua Minh Mạng). Triều Nguyễn dưới thời vua Minh Mạng đã khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa của nước ta, triều Nguyễn đã có những việc làm và hành động để thể hiện chủ quyền đối với quần đảo này. Chúng tôi xin giới thiệu hai văn bản để độc giả hiểu rõ hơn về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa của nước ta.

Bản dịch ở quyển 154 - Ðại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ:

Dựng đền thờ thần ở đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi

Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi, có một chỗ nổi cồn cát trắng, cây cối xanh um, giữa cồn cát có giếng, phía Tây Nam có miếu cổ, có tấm bài khắc bốn chữ "Vạn lý ba bình" (cồn bạch sa [cát trắng] chu vi 1070 trượng, tên cũ là núi Phật Tự, bờ Ðông, Tây, Nam đều đá san hô, sừng sững nổi lên, chu vi 340 trượng, cao một trượng ba thước, ngang với cồn cát gọi là Bàn Than thạch). Năm ngoái vua toan dựng miếu lập bia ở chỗ ấy, bỗng vì sóng gió không làm được. Ðến đây mới sai Cai đội Thủy quân là Phạm Văn Nguyên đem lính thợ Giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Ðịnh chuyên chở vật liệu đến dựng miếu (cách tòa miếu cổ 7 trượng). Bên tả miếu dựng bia đá, phía trước miếu xây bình phong. Mươi ngày làm xong rồi về.

Bản dịch ở quyển 165 - Ðại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ:

Bộ Công tâu: "Cương giới mặt biển nước ta có xứ (đảo) Hoàng Sa rất là hiểm yếu. Trước kia đã phái vẽ bản đồ nhưng do hình thế nó xa rộng nên mới chỉ vẽ được một nơi nhưng cũng chưa rõ ràng. Hàng năm nên phái người đi dò xét cho khắp để thuộc đường biển. Xin từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chọn phái biền binh thủy quân và vệ Giám thành đáp một chiếc thuyền ô, nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, yêu cầu hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Ðịnh thuê bốn chiếc thuyền của dân, hướng dẫn đi ra đúng xứ (đảo) Hoàng Sa. Không cứ là đảo nào, hòn nào, bãi cát nào, khi thuyền đi đến, cũng xem xét xứ ấy chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, chu vi và nước biển bốn bên xung quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thế hiểm trở, bình dị thế nào, phải tường tất đo đạc, vẽ thành bản đồ. Lại, xét ngày khởi hành, từ cửa biển nào ra khơi, nhằm phương hướng nào đi đến xứ ấy, căn cứ vào thuyền đi, tính ước được bao nhiêu dặm. Lại từ xứ ấy trông vào bờ bến, đối thẳng vào là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, đối chênh chếch là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, cách bờ biển chừng bao nhiêu dặm. Nhất nhất nói rõ, đem về dâng trình".

Vua y lời tâu. Sai Suất đội Thủy quân Phạm Hữu Nhật đem binh thuyền đi. Chuẩn cho mang theo mười cái bài gỗ, đến nơi có dựng làm dấu ghi (mỗi bài gỗ dài 5 thước, rộng 5 tấc, dày một tấc, mặt bài khắc những chữ "Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân, Thủy quân Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng lệnh đi Hoàng Sa trông nom đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ.

Qua hai tài liệu này rõ ràng chủ quyền quần đảo Hoàng Sa là của nước ta, triều đình nhà Nguyễn đã có những hành động và việc làm cụ thể để khẳng định chủ quyền đối với quần đảo này. Ngay từ thời các chúa Nguyễn, triều đình đã lập đội thuyền Hoàng Sa ra bảo vệ và khai thác những sản vật của quần đảo này mang vào đất liền.

Có thể bạn quan tâm