Các nội dung về quyền và nghĩa vụ công dân được quy định rõ ràng và đầy đủ, trong đó quyền công dân được hưởng an sinh xã hội thể hiện trực tiếp tại ba điều của Hiến pháp năm 1946:
"Ðiều 8: Ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung.
Ðiều 14: Những người công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ. Trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng.
Ðiều 15: Nền sơ học cưỡng bách và không học phí. Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình. Học trò nghèo được Chính phủ giúp. Trường tư được mở tự do và phải dạy theo chương trình Nhà nước".
Hiến pháp năm 1946 không được thực thi trọn vẹn, bởi thực dân Pháp đã gây hấn quay lại cướp nước ta một lần nữa, quân và dân ta lại phải cầm súng chống giặc ngoại xâm, cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và giành được thắng lợi vào năm 1954. Song đất nước tạm thời chia cắt hai miền, cả dân tộc lại vùng lên đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược, "không có gì quý hơn độc lập, tự do", kiên quyết đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào. Dưới sự lãnh đạo của Ðảng, kết hợp sức mạnh dân tộc và thời đại, chúng ta đã làm nên đại thắng mùa xuân năm 1975, non sông đất nước thống nhất. Hòa bình lập lại nhưng quân và dân ta vẫn phải tiếp tục các cuộc chiến tranh bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ ở biên giới Tây Nam và biên giới phía bắc. Ðất nước ta hàng nghìn năm lịch sử chưa bao giờ nguội tắt ngọn lửa đấu tranh, chúng ta kiên quyết đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, mà mỗi tấc đất đã thấm bao xương máu các thế hệ.
Trải qua các cuộc chiến tranh giành lại độc lập dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, hàng triệu người các thế hệ đã góp sức, góp công, đã hy sinh thân mình để bảo vệ Tổ quốc. Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn ghi nhớ công lao của những người đã anh dũng hy sinh, đổ xương máu vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Ðạo lý uống nước nhớ nguồn và thương người như thể thương thân được cụ thể hóa tại Hiến pháp năm 1992. Ðiều 67 quy định: "Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước. Thương binh được tạo điều kiện phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khỏe và có đời sống ổn định. Những người và gia đình có công với nước được khen thưởng, chăm sóc. Người già, người tàn tật, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ".
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển, năm 2011) đã khẳng định: "Chính sách xã hội đúng đắn, công bằng vì con người là động lực mạnh mẽ phát huy mọi năng lực sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách"; Nghị quyết Ðại hội Ðảng lần thứ XI đặt ra nhiệm vụ: "Phải coi trọng việc kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là đối với người nghèo, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là trong tình hình kinh tế khó khăn, suy giảm"; Nghị quyết số 15-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương ngày 1-6-2012 cũng yêu cầu: "Chính sách xã hội phải được đặt ngang tầm với chính sách kinh tế và thực hiện đồng bộ với phát triển kinh tế, phù hợp với trình độ phát triển và khả năng nguồn lực trong từng thời kỳ".
Thực hiện Hiến pháp năm 1992 và thể chế hóa các chủ trương của Ðảng, trong thời gian qua, chúng ta đã ban hành, điều chỉnh, bổ sung và ngày càng hoàn thiện các chính sách ưu đãi người có công và an sinh xã hội. Hiện nay, đời sống của người có công và gia đình đã từng bước được cải thiện với khoảng 95% gia đình người có công có mức sống trung bình trở lên so với mức sống dân cư tại địa bàn nơi cư trú. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ 58% năm 1992 xuống còn 10% năm 2012, thu nhập bình quân của hộ nghèo tăng hai lần, đời sống người nghèo được cải thiện.
Các chương trình việc làm ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ người dân có việc làm, tăng thu nhập. Năm 2012, dự án vay vốn giải quyết việc làm từ Quỹ quốc gia hỗ trợ Việc làm đã hỗ trợ tạo và tự tạo việc làm cho 160 nghìn lao động; Chương trình mục tiêu quốc gia Việc làm - Dạy nghề đã hỗ trợ tổ chức sàn giao dịch việc làm tại 43 tỉnh, thành phố; Ðề án Ðào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 hỗ trợ dạy nghề cho 485 nghìn lao động nông thôn.
Số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc năm 2012 đạt 10,3 triệu người; tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đạt 134 nghìn người; tham gia bảo hiểm thất nghiệp đạt hơn 8 triệu người. Bảo hiểm thất nghiệp đã trở thành lưới an sinh xã hội quan trọng, góp phần giảm bớt khó khăn đối với người lao động bị mất việc làm.
Chế độ trợ cấp xã hội thường xuyên cho đối tượng bảo trợ xã hội được sửa đổi theo hướng mở rộng đối tượng tham gia và nâng mức chuẩn trợ cấp. Năm 2012, hơn 2,6 triệu người được hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên; hơn 2,5 triệu người thuộc diện đối tượng bảo trợ xã hội được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí.
Hệ thống cơ sở bảo trợ xã hội được củng cố, nâng cấp, mở rộng theo hướng xã hội hóa. Năm 2012, đã phát triển thêm 20 cơ sở bảo trợ xã hội, đưa tổng số cơ sở bảo trợ xã hội cả nước lên 432 cơ sở, tổ chức nuôi dưỡng, chăm sóc thường xuyên 42 nghìn đối tượng xã hội đặc biệt khó khăn, không nơi nương tựa.
Công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có nhiều chuyển biến. Ðến năm 2012, tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là 5,8%; hơn 82% số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được chăm sóc dưới nhiều hình thức như: được hưởng trợ cấp xã hội, được trợ giúp về khám, chữa bệnh, chỉnh hình phục hồi chức năng, được hỗ trợ về giáo dục, v.v.
Những kết quả đạt được về chăm sóc người và gia đình có công, bảo đảm an sinh xã hội trong thời gian qua là to lớn và đáng tự hào, góp phần quan trọng bảo đảm và nâng cao đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân, thực hiện công bằng xã hội, tạo nên đồng thuận và ổn định chính trị xã hội ở nước ta. Tuy vậy, nước ta cũng phải đối mặt với rất nhiều thách thức trong quá trình phát triển, cụ thể:
Dù chiến tranh đã lùi xa nhưng hậu quả chiến tranh để lại còn rất nặng nề, còn phải tốn nhiều nguồn lực và thời gian để khắc phục cả về nhân lực và vật lực, về rà phá bom mìn còn sót lại, về cải tạo đất đai và nguồn nước bị ô nhiễm bởi chất độc mầu da cam; đời sống của một bộ phận người có công còn gặp khó khăn. Hiện nay, vẫn còn 5% số hộ gia đình người có công có mức sống dưới trung bình tại địa bàn nơi cư trú; còn khoảng 43 nghìn trường hợp đề nghị công nhận là liệt sĩ, thương binh, bệnh binh cần được xem xét giải quyết do thiếu giấy tờ, chứng lý gốc, hồ sơ không bổ sung kịp thời; còn một số người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc chưa được khen thưởng do hồ sơ còn thiếu, quy trình thủ tục xét khen thưởng chưa được thực hiện đầy đủ; một số người đã hy sinh, từ trần chưa được giải quyết.
Nước ta là một trong năm nước chịu tác động mạnh nhất của biến đổi khí hậu. Thiên tai xảy ra thường xuyên và gây thiệt hại lớn, mỗi năm khoảng hơn 1% GDP.
Sự bùng nổ dân số sau chiến tranh dẫn đến tỷ lệ gia tăng lực lượng lao động hằng năm cao, tạo áp lực về giải quyết việc làm và tạo việc làm bền vững cho người lao động. Giai đoạn 2006-2011, tốc độ gia tăng lực lượng lao động bình quân năm là hơn 2,6% trong khi tốc độ gia tăng việc làm bình quân năm của nền kinh tế chỉ là 2,4%. Hiện nay, chúng ta đang trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng song đây lại là thách thức nếu không bảo đảm chất lượng dân số, chất lượng lao động và không giải quyết được nhu cầu việc làm cho người lao động.
Nước ta hiện còn hơn 70% số lao động tập trung ở khu vực nông thôn, gần 50% số lực lượng lao động làm việc trong nông nghiệp, năng suất thấp và phụ thuộc nhiều vào thời tiết, khí hậu; khoảng 20% lực lượng lao động làm việc dưới hình thức tự tạo việc làm trong khu vực phi chính thức nên cũng dễ bị tổn thương, không được bảo vệ bởi các chính sách an sinh xã hội.
Kinh tế nước ta đang đẩy mạnh xuất khẩu nhưng sản phẩm xuất khẩu của nước ta chủ yếu là nguyên liệu thô và sản phẩm gia công nên hiệu quả kinh tế, việc làm và thu nhập của người lao động phụ thuộc lớn vào diễn biến của nhu cầu thị trường thế giới.
Mặt trái của đô thị hóa đang đẩy một bộ phận nông dân rơi vào hoàn cảnh bị mất kế sinh nhai, đặt ra thách thức về vấn đề đào tạo nghề và tạo việc làm cho họ. Mặt khác, các dòng di cư từ nông thôn ra đô thị và tới các khu công nghiệp, khu chế xuất đòi hỏi hệ thống dịch vụ xã hội cơ bản phải phát triển kịp thời để hạn chế các tiêu cực xã hội, gồm cả tệ nạn xã hội phát sinh.
Về cơ bản, nước ta vẫn còn nghèo. Thu nhập bình quân trên đầu người năm 2012 chưa đạt 1.500 USD. Số người thuộc diện nghèo tính theo chuẩn nghèo của Chính phủ còn lớn, hơn 10 triệu người, tỷ lệ cận nghèo cao và dễ tái nghèo khi bị rủi ro. Tỷ lệ nghèo của các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã bãi ngang ven biển, hải đảo, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số còn rất cao, khoảng 38%. Nhóm dân tộc thiểu số chỉ chiếm 12% dân số, nhưng tỷ lệ hộ nghèo chiếm 21% trong tổng số hộ nghèo của cả nước (năm 1997), tăng lên 29% (năm 1998) và 36% (năm 2005). Nhiều nhóm dân tộc thiểu số (Vân Kiều, Mông, Pakô, La Hủ, Mảng...) tỷ lệ hộ nghèo cao. Các tỉnh Tây Bắc (Ðiện Biên, Lai Châu, Lào Cai và Hà Giang), tỷ lệ nghèo hơn 35%, hầu hết các huyện nghèo có tỷ lệ nghèo hơn 50%, nhiều xã có tỷ lệ nghèo từ 80 đến 85%. Hiện còn khoảng 900 nghìn hộ đồng bào dân tộc thiểu số thuộc hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 34% tổng số hộ cận nghèo.
Bất bình đẳng ở nước ta không lớn so với một số nước trong khu vực, nhưng có xu hướng tăng, đặc biệt là chênh lệch về phát triển giữa vùng nông thôn và thành thị. Chênh lệch về thu nhập giữa nhóm 20% số dân cư có thu nhập cao nhất và 20% số dân cư có thu nhập thấp nhất là 4,43 lần năm 1992-1993(1), đã tăng lên hơn 9 lần(2) và thu nhập bình quân của hộ nghèo chỉ bằng khoảng 35% so với mức thu nhập của nhóm hộ có mức sống trung bình(3).
Hệ thống an sinh xã hội của nước ta vẫn còn non trẻ. Về cơ bản, chúng ta đã có nhiều chính sách an sinh xã hội trong hỗ trợ tạo việc làm, bảo hiểm xã hội và trợ giúp xã hội nhưng độ bao phủ còn thấp. Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm chủ yếu mới bảo đảm hỗ trợ để duy trì việc làm hơn là tạo được nhiều việc làm mới cho người lao động. Bình quân mỗi năm, Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm tạo việc làm cho khoảng 250 nghìn lao động. Ðến cuối năm 2012, cả nước mới có hơn 10,3 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, bằng 20% lực lượng lao động; gần 8,1 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp, bằng 16% lực lượng lao động; hiện mới có khoảng 22% số người cao tuổi trong cả nước có lương hưu từ quỹ bảo hiểm xã hội. Còn hơn 30% dân số chưa tham gia bảo hiểm y tế; số đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên mới chiếm khoảng 2% dân số.
Nước ta sắp bước vào thập niên tăng trưởng thứ ba dựa trên cơ sở hội nhập nền kinh tế toàn cầu. Từ một trong những nước nghèo nhất trên thế giới vào đầu thập niên 90 của thế kỷ 20, nước ta đang hướng tới trở thành một nền kinh tế có thu nhập trung bình. Tuy nhiên, công cuộc xóa đói, giảm nghèo sẽ gian nan hơn, đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn từ phía Chính phủ, xã hội và bản thân người nghèo. Ðồng thời, một số tác động tiêu cực của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập là những thách thức đối với công tác giảm nghèo, đó là sự thay đổi nhanh chóng và khó dự báo của môi trường kinh tế và xã hội, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế.
Trong bối cảnh đó, Ðiều 67 của Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung thành Ðiều 35 và Ðiều 63 trong bản Dự thảo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2013) thể hiện một nhận thức đầy đủ, toàn diện và tính cam kết của Nhà nước, cộng đồng và người dân trong công tác chăm sóc người và gia đình có công với nước và thực hiện mục tiêu an sinh xã hội toàn dân, không để người dân bị rơi vào cảnh khốn cùng mà không nhận được trợ giúp, cụ thể:
Ðiều 35 (sửa đổi, bổ sung Ðiều 67): "Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội" đã thể hiện cam kết của đất nước về bảo đảm quyền cơ bản của con người. Thực hiện Ðiều 35, hệ thống an sinh xã hội của đất nước sẽ được xây dựng và phát triển trên cơ sở quyền con người, hướng đến thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu an sinh xã hội của mọi người dân, thúc đẩy hòa nhập xã hội cho nhóm yếu thế, nhất là nhóm có nguy cơ cao bị loại trừ xã hội, gồm người già không nơi nương tựa, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người tàn tật, người nhiễm HIV/AIDS...
Ðiều 63 (sửa đổi, bổ sung Ðiều 67): "Nhà nước phát triển hệ thống an sinh xã hội đa dạng, toàn diện, có tính chia sẻ, công bằng, bền vững, trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn. Nhà nước và xã hội tôn vinh, khen thưởng, thực hiện các chính sách ưu đãi đối với người có công với nước" đã xác nhận công tác chăm lo đời sống vật chất và tinh thần đối với người và gia đình có công với nước, bảo đảm an sinh xã hội cho các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, nhóm yếu thế là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Ðảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó Nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, đa dạng và linh hoạt để mở rộng, tiến đến bao phủ toàn dân và nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ an sinh xã hội, trong đó Nhà nước tạo điều kiện để người dân tự an sinh thông qua các chính sách, chương trình việc làm, phát triển giáo dục nghề nghiệp, tăng cường thông tin thị trường lao động và tham gia vào các hình thức bảo hiểm xã hội đa dạng, gồm bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm xã hội bổ sung, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế. Hệ thống an sinh xã hội đa tầng và linh hoạt sẽ bảo đảm nguyên tắc chia sẻ giữa quyền lợi và trách nhiệm giữa Nhà nước, xã hội và người dân, giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ, bảo đảm phát triển xã hội bền vững và công bằng.
Có thể khẳng định, Ðiều 35 và Ðiều 63 (sửa đổi, bổ sung Ðiều 67) đã thể hiện tính ưu việt của Nhà nước ta, một Nhà nước của dân, do dân và vì dân; thể hiện ý nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành" và cũng thể hiện sự cam kết của Nhà nước ta với Ðiều 25 Hiến chương Liên hiệp quốc năm 1948 quy định về quyền an sinh xã hội của người dân: "... Mọi người dân và hộ gia đình đều có quyền có một mức tối thiểu về sức khỏe và các phúc lợi xã hội bao gồm ăn, mặc, chăm sóc y tế, dịch vụ xã hội thiết yếu và có quyền được an sinh khi có các biến cố về việc làm, ốm đau, tàn tật, góa phụ, tuổi già... hoặc các trường hợp bất khả kháng khác.
(1) Tổng cục Thống kê, Kết quả điều tra mức sống dân cư 1992-1993.
(2) Theo kết quả điều tra mức sống dân cư năm 2010 của Tổng cục Thống kê, Chênh lệch về thu nhập giữa nhóm hộ giàu nhất và nhóm hộ nghèo nhất năm 2010 là 9,2 lần.
(3) Theo kết quả điều tra mức sống dân cư năm 2010 của Tổng cục Thống kê, thu nhập bình quân của hộ nghèo từ bằng 43% so với mức thu nhập của nhóm hộ có mức sống trung bình vào năm 2002, giảm xuống còn 39,3% năm 2008 và chỉ còn bằng 37% vào năm 2010.
PHẠM THỊ HẢI CHUYỀN
Ủy viên T.Ư Đảng, Bộ trưởng Lao động- Thương binh và Xã hội.