Cây chè từ xưa đã là một đặc sản của vùng cao nguyên Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Ðã có thời, ở xã Tô Múa, chè Shan tuyết cổ thụ kết thành rừng, đúng như câu ca: Chè Tô Múa, lúa Tú Nang... Cả Liên Xô (trước đây) và Ðông Âu đã quen thuộc nhãn hiệu chè Mộc Châu. Những biến động chính trị đã phá vỡ mối liên kết với các bạn hàng truyền thống. Giá chè tụt thê thảm. Có lúc chè búp tươi chỉ còn 200 đồng/kg mà vẫn không có người mua. Lau lách, rừng hoang lút dần những đồi chè không ai chăm sóc. Chè Shan tuyết cổ thụ bị đốn hạ hàng loạt, nhường chỗ cho ngô sắn cứu đói. Cả xã Tô Múa, sản lượng chè búp tươi cả năm còn không đầy 20 tấn. Cơn điêu đứng chát đắng vị chè còn ám ảnh người dân nhiều năm sau. Sau những lần hồi, tìm kiếm, mãi đến năm 1996, Công ty chè Mộc Châu mới mở ra được thị trường mới. Nhưng, để đưa người dân trở lại với cây chè không phải là điều dễ dàng.
Bước đầu là rất nhiều cuộc họp phổ biến chủ trương trồng chè đến dân. Thấy đã xuôi xuôi, Giám đốc Công ty chè Mộc Châu khi đó là ông Lê Xuân lễ mễ đánh một xe tải đầy ngật chè giống, vượt hơn 40 km đường đất vào Tô Múa. Ai ngờ, các già làng, trưởng bản vẫn dửng dưng, buông từng câu cụt lủn:
- Chè à? Không trồng!
Cả đoàn cán bộ công ty chưa biết làm sao. Rất nhanh, Giám đốc Lê Xuân sà vào cạnh già làng, miệng chào hỏi, tay vơ chiếc điếu ục, làm một hơi thuốc lào say đứ đừ. Tự rót một chén nước, Lê Xuân thưa:
- Dạ dân bản không trồng thì công ty lại mang về, nhưng đã vào đến đây thì mời già làng, dân bản uống chén rượu với chúng con.
Hai can rượu trắng, mỗi can 20 lít, được mang vào. Một cán bộ nhào ra chợ mua quàng mấy cân thịt lợn, vài gói kẹo. Thịt lợn luộc thái dối bày lên lá chuối. Kẹo chia cho phụ nữ, trẻ con. Rượu rót ra bát, liên tục cạn. Hết cả 40 lít rượu, Lê Xuân ngật ngưỡng xin phép già làng cho chở chè về. Lúc đó già làng mới nói:
- Cứ để đây. Mai dân bản trồng.
Những giống chè mới, cách thức chăm sóc cũng khác. Công ty cắm hẳn một tổ khuyến nông tại xã Tô Múa. Chè trồng đến đâu, khuyến nông theo đến đó hướng dẫn tỉ mỉ kỹ thuật chăm sóc, phun thuốc trừ sâu. Tô Múa có hơn 800 hộ dân, phần lớn là người Thái, người Dao. Sinh hoạt, làm việc đều phải theo nếp, phong tục của đồng bào. Tổ trưởng tổ khuyến nông cắm bản Lò Văn Sơn cho biết: Họp phổ biến kỹ thuật ở đây bắt đầu sớm nhất cũng phải từ 10 giờ đêm, kéo đến 3 giờ sáng. Ðồng bào đi làm từ sáng liền một mạch không nghỉ đến chiều, về ăn xong là phải ngủ một giấc rồi mới đi họp. Ngồi nghe phổ biến kỹ thuật mà hơn một nửa số người ngủ gật, còn thì uống rượu, hút thuốc lào. Cán bộ khuyến nông cứ việc nói, lọt tai đồng bào câu nào được câu ấy. Nói cả đêm, sáng ra lại bám dân lên nương để làm mẫu. Thế rồi, ngay giữa xã Tô Múa, một nhà máy chế biến chè được dựng lên với gần 30 công nhân, như một lời cam kết với đồng bào. Chủ tịch xã Tô Múa Hà Văn Thao cùng bảy hộ dân trả lại ruộng cho xã, lập bản mới Chò Ðáy quyết tâm sống bằng cây chè. Anh Hà Văn Quang tâm sự: "Hồi mới được vận động làm chè, thử một buổi hái được 12 kg búp tươi. Khi đó cứ 500 đồng/kg, vậy là được bốn cân thóc. Yên tâm rồi, vợ con khỏi lo đói". Ðến nay, mỗi ngày anh hái được 20 kg chè búp. Giá thu mua của công ty bây giờ cao hơn nhiều, một kg chè búp được 2.000 đồng, tương đương 1 kg thóc. Trong lúc năng suất chè phổ biến của cả nước mới ở mức tám tấn/ha thì ở Tô Múa, có nhiều nương chè đạt tới 15 tấn/ha. Tính ra, nương chè ở đây cũng cho thu nhập hơn 30 triệu đồng/ha/năm. Chỉ sau năm năm trồng chè, nuôi ba con ăn học, gia đình anh Hà Văn Quang đã mua được ti-vi, xe máy, các máy công cụ làm chè như máy phát, máy phun. Cuộc sống đã gọi là sung túc. Riêng năm 2004, Tô Múa đã trồng mới hơn 90 ha chè, đưa diện tích chè toàn xã lên hơn 400 ha. Trong hơn 800 hộ dân ở xã vùng sâu Tô Múa, chỉ còn 40 hộ thuộc diện đói nghèo. Cả xã chỉ có hơn 30 ha lúa nước, vậy mà vẫn có tới 32 chiếc ô-tô, 130 xe máy, 48 máy xay xát... Tất cả đều nhờ vào cây chè.
Không chỉ ở Tô Múa, cây chè cũng đang mang no ấm, sung túc đến các xã Chiềng Khoa, Lóng Luông, Vân Hồ. Trước năm 1992, Vân Hồ là một thủ phủ của cây thuốc phiện. Năm nay hơn 60 tuổi, ông Vàng A Páo nhớ lại: - Thuốc phiện nhiều nhiều đây, nhưng trồng mãi vẫn không giàu. Cả xã nhiều người nghiện quá.
Từ năm 1996, nương chè đã thay thế nương thuốc phiện xưa. Ông Páo nhận xét:
- Trồng chè vất vả hơn thuốc phiện. Thuốc phiện gieo xong là thôi, còn chè phải làm cỏ, phun thuốc liên tục. Biết làm rồi thì không khó.
Người Mông đã làm thì làm đến nơi đến chốn. Nương chè của người Mông cũng sạch bóng, đều tăm tắp như đồi chè mẫu của công ty. Năm nay, thời tiết không thuận nhưng nương chè 1,4 ha của ông Páo vẫn đạt năng suất 13 tấn/ha. Cả tám người con của ông Páo đều đã ra ở riêng, đều có nhà cửa khang trang, và quan trọng là đều có nương chè. Một hình ảnh đã trở nên quen thuộc của người Mông xã Vân Hồ là sáng sáng cưỡi xe máy, cõng kế (gùi) đi nương làm chè. Bí thư Ðảng ủy Công ty chè Mộc Châu Nguyễn Văn Oanh ví von:
- Ðúng như vị chè anh ạ, sau đắng chát là vị ngọt!