Hơn ba phần tư thế kỷ qua rồi, nhưng cái đêm kinh hoàng của năm ấy tới nay, còn hằn rõ mồn một trong tôi... Ðó là một đêm gió, mưa tầm tã. Mái lều cha tôi mượn ở nhờ sau ngày ra khỏi nhà tù của thực dân Pháp, không đủ sức chống đỡ trước trận mưa, gió phũ phàng kia. Nước từ trên cao xối xuống, nước theo gió từ bốn phía táp vào, hai cha con tôi chuyển hết cả bốn góc nhà, vẫn chẳng tìm được chỗ nằm khỏi ướt. Lỉnh kỉnh tới gần nửa đêm, cha tôi đành ôm tôi vào lòng, lấy thân mình che cho tôi ngủ. Mệt mỏi, tôi thiếp đi luôn, nhưng cũng chẳng được lâu, cơn giá lạnh lại giật tôi tỉnh giấc. Tôi sờ lên người, áo quần sũng nước. Quờ quạng chung quanh, không thấy cha tôi. Tôi gọi cha, gọi mãi, chỉ có tiếng gầm rú của gió, mưa đáp lại. Tôi hốt hoảng tìm rơm, tìm lửa đốt đèn. Ngọn lửa vừa lóe sáng, thì một cảnh tượng hãi hùng hiện ra: Cha tôi đã thắt cổ tự tử!... Ngay phút ấy tôi hớt hải chạy đi báo tin cho anh, chị tôi; và cũng ngay đêm mưa gió ấy, chúng tôi bó cha tôi vào chiếu, đưa ra đồng bãi... Phải chôn vội vàng, vụng trộm thế, vì như anh chị tôi nói, để tới hôm sau khó mà chôn cất nổi nếu không đủ tiền lễ lạt theo lệ của bọn cường hào trong làng...
Mười tuổi đầu, tôi sống lang thang, nhận làm những việc lặt vặt cho bà con hàng xóm, nơi dăm bữa, nơi nửa tháng. Gần một năm sau, thì tôi được anh chị tôi xin cho vào làm con nuôi một nhà giàu. Không việc gì không qua tay tôi, và cũng không việc gì tôi không làm. Từ bế ẵm, trông nom đàn con chủ, đến chăn dắt lợn, gà, trâu, chó; từ nấu cơm, đốn củi, đến đơm đó, bỏ lờ... Sinh ra từ một gia đình nông dân nghèo khổ, lam lũ, nên tôi thích ứng nhanh với mọi công việc đồng áng nặng nhọc, khả năng ấy cũng được gia chủ "biết tới", và do đó, chưa sang tuổi 13, tôi đã phải đi cày, bừa, gặt hái, cuốc ruộng, phát bờ như một anh lực điền thực thụ. Suốt sáu năm làm con nuôi mà thực ra là đi ở không công, chỉ có một lần duy nhất tôi ngửa tay nhận ba đồng từ tay bố mẹ nuôi về bốc mộ cha, thì đến giây phút tôi rời bỏ "ông bố, bà mẹ nuôi" đó, họ cũng bắt tôi trả lại.
Chuyện kiếm sống đã chật vật, gian nan, chuyện tình duyên của tôi càng long đong, buồn tủi. Thời ấy, quê tôi, gái trai đến với nhau sớm lắm. Thanh niên nào ngoài 20 tuổi, chưa lấy được vợ, sẽ bị liệt vào hàng "ông mãnh", bị các cô gái xa lánh. Tập tục này làm chị tôi rất lo lắng, luôn thúc giục tôi xây dựng gia đình. Người đầu tiên chị chọn, là một phụ nữ góa chồng. "Ðánh tiếng" tuần trước, thì tuần sau, lý trưởng cưới cô ta về làm lẽ thứ ba. Tiếp đám đó, chị tôi còn ướm hỏi cho tôi hai người nữa, cũng đều là "đàn bà góa" cả, song chẳng đám nào thành.
Tôi mò ra Hà Nội và nghĩ: "Cứ ra thành phố đã. Tiện việc gì, nhận việc nấy. Ði buôn, đi làm thuê, hay đi lính, đều được cả, miễn sao thoát khỏi cảnh khốn cùng ở cõi thôn quê khốn khổ này"... Tháng đầu tiên ở nơi đô thành, không định đi xin ăn, song vô tình, tôi vẫn phải nhận của bố thí của khách qua đường như kẻ ăn mày. Ấy là khi tôi đến trước một người sang trọng, nói với họ rằng tôi đang sống bơ vơ, muốn có việc làm, họ quay mặt đi, ném lại cho tôi mấy đồng chinh. Rồi khi tôi gặp một bà già béo tốt, choàng áo dài hồng, đang hoan hỉ bước từ cửa chùa ra, tôi nói với bà rằng tôi rất khỏe mạnh, bà mượn làm việc gì, tôi đều có thể làm được; bà già cúi xuống, rút trong làn cặp bánh tẻ, đưa cho tôi, ánh mắt tối sầm! Có ngày, tôi gõ cửa tới chín nhà liền, hỏi xem cần thuê người làm không. Họ nhìn tôi ngờ vực: Người lắc đầu, người cau mặt, người thì quẳng cho tôi chiếc bánh mỳ cháy, rồi đóng sập cửa lại. Thỉnh thoảng, tuần đôi, ba lần, cũng có người thuê tôi gánh giúp phuy nước, kéo vài chuyến xe bò, hoặc vác dăm khối gỗ; chỉ thế thôi, chốc lát, tạm bợ, với số tiền công ít ỏi, để rồi lại khoác bị sang gõ cửa nhà khác. Cứ thế, bữa đói, bữa no, ngày thất thểu qua các phố tìm việc, tối ngủ vật vạ bên vỉa hè, góc chợ. Hai tháng qua đi, vẫn chưa kiếm được việc nào chắc chắn, tôi đang định lộn về làng, trở lại kiếp ngựa trâu, thì có tin một chủ thầu người Pháp mộ phu làm đường. Tôi háo hức tìm đến đăng tên. Ngỡ đời mình sẽ khác, đâu ngờ, sắp chết đuối lại bíu vào đám bọt...
Con đường chúng tôi mở ngày ấy là đường 7, kéo từ Vinh sang Lào. Bọn chủ thầu đẩy dân phu lên vùng "rừng thiêng, nước độc" này để khai thông con đường lớn qua những dốc đèo quanh co, hiểm trở, nhưng "ăn làm sao, ở làm sao" thì chúng phó mặc. Lao động vất vả, nặng nhọc, nên chết chóc, bệnh tật dắt nhau ùa tới: người sa chân xuống vực, người bị núi lở, đá đè, rồi phù thũng, ngộ độc, "ngã nước", ghẻ lở, sốt mò... Tôi vẫn được anh em xếp vào loại trai tráng sức vóc nhất, song sang tháng thứ tư đã bị sốt rét quật ngã và cũng chỉ tới tháng thứ chín, chịu không nổi, tôi bỏ về, vĩnh biệt kiếp "dân phu lục lộ" cho thực dân Pháp.
Vừa đặt chân đến Hà Nội, tôi chưa kịp nghĩ sẽ làm gì để sống thì bị lùa vào lính. Cũng như lúc bỏ làng ra đi, tôi vẫn hoàn toàn ấu trĩ, ngây thơ về chính trị, về thời cuộc. Nhìn ra phía trước, vẫn thấy mù mịt, tối tăm, nên một lần nữa, tôi lại tặc lưỡi một cách thiển cận: "Ði lính thì đi! Xem đời xô đẩy tới đâu!...".
Nhập khu nhà binh hôm trước, ngay hôm sau, bọn sĩ quan Pháp dồn chúng tôi vào xe, chở thốc lên tận "Thủ phủ Tây Bắc". Tám tháng đầu, chúng bắt học các môn quân sự ở trung tâm huấn luyện; 13 tháng tiếp theo, chúng đưa đi xây dựng đồn bốt, doanh trại. Gần hai năm làm lính cho Pháp, tôi vẫn sống trong cảnh bị đè nén, cực nhục, song dẫu sao cũng có cơm ăn, quần áo mặc, thêm vào đó là chính sách "mị dân", "ru ngủ" khôn ngoan, xảo quyệt của thực dân Pháp, nên tôi không nhìn rõ bộ mặt thật của kẻ thù, không thấy hết tội ác của chúng đối với đồng bào ta, không nhận ra tính chất tay sai của người lính đánh thuê như tôi. Mãi tới cuối năm thứ hai, lúc tôi được điều sang đơn vị "giám binh mũ xanh" ở thị xã, tôi mới hiểu tường tận được sự dã man, tàn bạo của bọn xâm lược; chứng kiến được chúng hiệp sức với bọn phong kiến, địa chủ, vơ vét thóc gạo và bóc lột sức lao động dân mình ra sao? Tận mắt, tôi đã thấy chúng tra khảo, hành hạ một người thanh niên cũng nghèo khổ, cũng mất cha, mất mẹ, nhà cửa tan nát như tôi cho đến chết, vì cái tội "theo cộng sản làm loạn"... Ðầu óc tôi sáng ra dần. Qua hàng chục ngày đêm sống trong trạng thái căng thẳng, tôi quyết định từ bỏ đời làm lính cho Tây, trốn về xuôi...
Những ngày đầu trốn khỏi trại giám binh, tôi chưa thể nghĩ gì khác ngoài nỗi lo sợ bị bọn chúng truy đuổi, bị bắt trở lại. Khi về gần tới Hà Nội, nỗi lo lắng kia giảm bớt, thì câu hỏi tiếp như "Sống thế nào đây, làm gì để sống đây?" lại trỗi dậy, đè trĩu lòng tôi... Năm tháng lang bạt đã qua, nhất là năm tháng làm lính, đã cho tôi hiểu: đời mình bị bủa vây rồi, các hướng đi đều bị chặn rồi, sống ở đâu và làm gì cũng chỉ là kẻ tôi tớ, sống trong nghẹt thở thôi. Chính khi đã rút ra được điều ấy, tôi càng hoang mang cực độ. Hà Nội với những ngày ngửa tay xin việc, những đêm vật vờ bên xó chợ gầm cầu, những đồng chinh, những khoanh bánh mỳ cháy, vẫn in sâu trong tôi. Nhớ tới những cái đó, và nghĩ mình đang trở lại nơi đó, tôi không khỏi rùng mình...
Nhưng lúc đó tôi đã không hiểu rằng: Tôi đang đứng trước một thời cơ, một thời điểm chuyển mình lớn lao của dân tộc, của đất nước. Từ miền ngược đến miền xuôi, nhân dân đang sôi sục chuẩn bị cho ngày Tổng khởi nghĩa, lật đổ chế độ cũ, xây dựng chính quyền nhân dân mới. Hà Nội vậy. Hà Nội không lạnh lùng buồn tẻ như xua. Hà Nội cũng không cho tôi có thời gian buồn bã, lang thang nữa. Bước chân tới cửa ngõ thành phố, tôi đứng lặng, rồi bừng tỉnh trước dòng khẩu hiệu cách mạng ai đấy vừa dán ở ngã tư, tôi chạy sang bến xe nghe bà con đọc truyền đơn cách mạng; tôi chen lấn vào chợ nghe cán bộ cách mạng diễn thuyết; tôi ùa xuống đường phố, theo "người cách mạng" đi đấu tranh. "Cách mạng! Cách mạng!". Hai tiếng ấy vang lên trong lòng mọi người, thiêng liêng mà thân thiết! Người ta thì thầm hỏi nhau, truyền cho nhau "Cách mạng là gì nhỉ?", "Là đổi đời" - "Ðổi đời ra sao?" - "Là thợ thuyền, dân nghèo cùng nhau đứng dậy, đánh đuổi quân xâm lược, đánh đuổi phong kiến địa chủ, giành lại quyền sống cho mình...". Không còn nghi ngờ, do dự, tôi lao vào các hoạt động do những người cách mạng tổ chức; và dần dần, tôi cũng mạnh bạo cổ vũ mọi người ủng hộ cách mạng, làm theo cách mạng. Với sự hăng hái ấy, tôi đã được cách mạng tiếp nhận, giáo dục, được đưa đi làm công tác tuyên truyền vũ trang và sát ngày Hà Nội khởi nghĩa cướp chính quyền, tôi chính thức được công nhận là đội viên đội Vệ quốc quân của thành phố...
Thượng tướng Hoàng Cầm
Nguyễn Phúc Ấm ghi