Ðánh thức tiềm năng
Các tỉnh duyên hải miền trung từ Quảng Bình tới Khánh Hòa nằm dọc theo bờ biển dài 1.171 km, có tổng diện tích tự nhiên hơn 51 nghìn km2; với hơn 9,6 triệu dân đang sinh sống và gìn giữ chủ quyền lãnh hải rộng lớn hơn nửa triệu ki-lô-mét vuông, đang "ôm" trong lòng hơn 200 đảo lớn nhỏ. Trong đó, có những đảo giữ vị trí quan trọng về kinh tế và QP, AN. Trong 20 năm qua, cùng với nguồn vốn hỗ trợ từ Nhà nước, các địa phương đã huy động các nguồn vốn khác để xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển KT-XH và giữ vững QP, AN. Có thể nói, từ khi hệ thống cảng biển nước sâu và khu công nghiệp, thương mại, du lịch, dịch vụ: Chân Mây, Dung Quất, Chu Lai, Nhơn Hội, Vũng Rô, Vân Phong... được đưa vào hoạt động đã tạo ra bước đột phá trong phát triển ở khu vực này. Theo đó, đã hình thành một chuỗi đô thị trẻ trung, đang lớn mạnh, trải dọc theo bờ biển, tạo diện mạo mới cho cả khu vực miền trung - Tây Nguyên.
Những năm qua, tỉnh Quảng Nam đã chú trọng phát huy tiềm năng, thế mạnh của biển và khu vực ven biển; tập trung quy hoạch, xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển các khu công nghiệp, du lịch, dịch vụ ven biển; nâng cao hiệu quả nuôi trồng, đánh bắt hải sản... Nhất là từ khi Khu kinh tế mở Chu Lai được thành lập đã góp phần thúc đẩy kinh tế của tỉnh phát triển. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Nguyễn Ngọc Quang cho biết: Nghị quyết Ðại hội Ðảng bộ tỉnh lần thứ 20 đã xác định nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển vùng đồng bằng ven biển và hải đảo là xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế biển của tỉnh. Theo đó, tỉnh đã tập trung xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng, nhất các công trình trọng điểm như: cầu Cửa Ðại, gắn với tuyến đường cứu hộ, cứu nạn và dự án sắp xếp dân cư ven biển; tạo hành lang thông suốt tuyến ven biển từ Ðà Nẵng đến Dung Quất nhằm phục vụ dân sinh, phát triển KT-XH và đáp ứng nhiệm vụ QP, AN.
Trong quá trình phát triển, tỉnh Quảng Nam luôn chú trọng gắn phát triển kinh tế biển với nhiệm vụ bảo đảm QP, AN. Tỉnh đã hỗ trợ ngư dân gần 100 tỷ đồng để khuyến khích, khai thác, nuôi trồng hải sản, dịch vụ khai thác hải sản và hỗ trợ xây dựng lực lượng dân quân tự vệ biển sẵn sàng phối hợp các lực lượng thực hiện chức năng quản lý, bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển, đảo; tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế biển và giữ vững ổn định chính trị vùng biển. Công tác tuần tra, kiểm soát dọc bờ biển và trên một số tuyến trọng điểm được duy trì thường xuyên; qua đó đã kịp thời phát hiện và xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật, tích cực bảo vệ ngư dân đánh bắt hải sản xa bờ, bảo đảm công tác tìm kiếm cứu nạn trên biển.
Trao đổi ý kiến với chúng tôi, Phó Chủ UBND tỉnh Quảng Bình Nguyễn Xuân Quang cho biết, sau khi có Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban Chấp hành T.Ư Ðảng (khóa X) về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, Tỉnh ủy đã ban hành chương trình hành động về công tác này. Qua bốn năm triển khai, tỉnh Quảng Bình đã không ngừng nâng cao chất lượng quy hoạch; trong đó chú trọng việc gắn quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, địa bàn với thực hiện chiến lược biển, phát triển kinh tế biển, ven biển và tăng cường khả năng bảo đảm QP, AN. Theo đó, tỉnh đã đầu tư hàng nghìn tỷ đồng cho việc xây dựng phát triển Khu kinh tế Hòn La, Cảng Hòn La, Cảng Gianh và các dự án, nhằm từng bước hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế biển. Ðồng thời, tỉnh đang triển khai Ðề án 32 xã bãi ngang, cồn bãi do Chính phủ phê duyệt, tổ chức làm thí điểm tại địa phương, với tổng nguồn vốn đầu tư gần một nghìn tỷ đồng.
Ðối với tỉnh Phú Yên, việc phát triển kinh tế, nhất là phát triển kinh tế biển hiện nay luôn gắn liền với nhiệm vụ giữ vững QP, AN, chủ quyền quốc gia. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên Lê Văn Trúc cho biết, Phú Yên có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế biển; trong đó, có nghề đánh bắt cá ngừ đại dương. Hiện, toàn tỉnh có hơn bảy nghìn tàu, thuyền, với tổng công suất hơn 80 nghìn CV, trong đó có 698 tàu câu cá ngừ đại dương. Nhờ phát triển nghề câu cá ngừ đại dương đạt hiệu quả cao mà hàng trăm hộ ngư dân đã nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống. Những tháng đầu năm 2011, mỗi thuyền viên thu nhập trung bình hơn 10 triệu đồng trong một chuyến đi biển, với thời gian khoảng một tháng.
Tuy nhiên, trong quá trình lao động sản xuất trên biển, ngư dân thường xuyên phải đối mặt với nhiều rủi ro như: hư hỏng tàu thuyền, máy móc, trang thiết bị, đâm, va, tai nạn trên biển, thiên tai, mưa bão, cướp biển tiến công. Vì vậy, việc tổ chức sản xuất trên biển, nhất là tổ chức hợp tác nhiều tàu, thuyền để hỗ trợ khi gặp hoạn nạn, chia sẻ thông tin ngư trường, giúp nhau trong vận chuyển nhiên liệu, sản phẩm ra, vào bờ là một nhu cầu tất yếu. Ðến nay, tỉnh Phú Yên đã thành lập được 105 tổ tàu thuyền an toàn, gồm 860 phương tiện nghề cá, hơn sáu nghìn thuyền viên tham gia. Mặt khác, để đối phó với những biến động khắc nghiệt của thiên tai và những trục trặc trong quá trình khai thác ở những ngư trường xa, cộng đồng ngư dân đã tự hình thành những tổ, đội liên kết để hỗ trợ nhau sản xuất, khai thác. Ðược biết, ngoài việc khai thác hải sản, các tổ, đội đã hợp tác, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn. Trong hai năm 2009 và 2010, các tổ, đội đã cứu hộ, cứu nạn 148 vụ, với 73 người và 176 phương tiện.
Liên kết để phát triển
Khu vực duyên hải miền trung có nhiều lợi thế trong phát triển kinh tế biển. Tuy nhiên, thời gian qua, những kết quả đạt được từ khai thác, chế biến hải sản, dịch vụ du lịch... chưa tương xứng tiềm năng và lòng mong đợi của người dân. Việc phát triển kinh tế biển chưa gắn chặt với bảo đảm QP, AN; một số nơi chỉ chú trọng đến mục tiêu phát triển kinh tế mà buông lơi công tác QP, AN. Thậm chí không ít người cho rằng, phát triển kinh tế biển là nhiệm vụ chỉ của các tỉnh, thành phố, huyện, thị xã có biển hoặc của riêng các ngành như tài nguyên và môi trường, thủy hải sản, công thương, du lịch, dầu khí... Từ những suy nghĩ đó, đã dẫn đến những bất cập trong quy hoạch và đầu tư; tình trạng phân tán, khép kín "mạnh ai nấy làm" giữa các ngành và địa phương trong vùng vẫn còn diễn ra. Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực chưa được quan tâm đúng mức, đang thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao.
Phó Hiệu trưởng Trường đại học Nha Trang Ðỗ Văn Ninh cho biết, hiện việc đào tạo các chuyên ngành phục vụ kinh tế biển của nhà trường đang đối mặt với khó khăn, vì nguồn tuyển sinh đang teo tóp, ít người đăng ký theo học. Chẳng hạn các ngành: Khai thác thủy sản, an toàn hàng hải, điều khiển tàu biển, trong vài ba năm nay trở lại đây, mỗi khóa chỉ có vài ba thí sinh trúng tuyển, nên không thể tổ chức đào tạo kỹ sư của các ngành này. Hay như ngành nuôi trồng thủy sản mỗi năm cũng chỉ thu hút được ba, bốn chục sinh viên, đủ mở một lớp; còn các ngành: Kinh tế thủy sản, kỹ thuật tàu thủy thì thí sinh đầu vào cũng đang giảm mạnh... trong khi đó, nhu cầu nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế trong khu vực rất lớn.
Theo số liệu khảo sát của Tổng cục Dạy nghề, nhu cầu học nghề chiếm khoảng 12 đến 15% trong tổng số lao động nông thôn. Cụ thể, tại Quảng Nam, có 8.600 người có nhu cầu học nghề khai thác, chế biến hải sản và nuôi trồng thủy sản. Ðối với nghề thuyền trưởng, máy trưởng tàu cá, nhu cầu học nghề của người lao động ở Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Phú Yên, Bình Thuận lên đến 23.500 người... Nhiều nhà quản lý, nhà khoa học và lãnh đạo các địa phương cho rằng, muốn phát triển toàn diện, trước hết phải đổi mới tư duy, cách nhìn nhận trong quy hoạch và đầu tư về chiến lược phát triển kinh tế biển, đảo. Kế đó, phải có kế hoạch lâu dài về đào tạo nguồn nhân lực. Nghĩa là, ngay từ bây giờ phải tiến hành rà soát, dự báo dài hạn về nhu cầu nguồn nhân lực; tổ chức đào tạo những ngành mới có nhu cầu cao trên cơ sở cân đối tỷ lệ đào tạo theo bậc và ngành nghề; đa dạng hóa phương thức và quy mô đào tạo. Mặt khác, cần đổi mới chính sách liên kết, hợp tác vùng, địa phương trong việc bố trí cơ cấu ngành nghề, phân công lao động; đồng thời, lấy kinh tế biển làm động lực cho sự phát triển của cả vùng, tạo việc làm thu hút mạnh lao động.
Ðiều quan trọng nữa là các địa phương trong khu vực cần phải có cơ chế phối hợp và sớm dỡ bỏ những rào cản phát triển kinh tế theo địa giới hành chính nhằm tăng cường sự phối hợp thống nhất giữa các ngành, các lĩnh vực từ T.Ư đến địa phương, cộng đồng và từng người dân; đồng thời chú trọng hơn nữa đến vấn đề an sinh xã hội. Nhà nước sớm hoàn thiện các chính sách nhằm khuyến khích phát triển mạnh khai thác thủy hải sản, đi theo hướng ưu tiên tập trung khai thác vùng biển khơi nhằm vừa phát triển kinh tế biển, đảo vừa tham gia bảo vệ chủ quyền QP, AN trên vùng biển, trong đó chú trọng mở rộng năng lực đánh bắt xa bờ, hoàn thiện và mở rộng hệ thống kết cấu hạ tầng và dịch vụ hậu cần nghề cá, tạo điều kiện cho ngư dân bám biển dài ngày bằng các chính sách hỗ trợ tín dụng, hỗ trợ năng lực sản xuất thiết thực.
Mặt khác, các cơ quan T.Ư cần nghiên cứu, tham mưu Chính phủ đổi mới chính sách đầu tư, trước hết là đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, chính sách tín dụng, hỗ trợ giá cả một cách cụ thể để bà con ngư dân khắc phục khó khăn, nỗ lực sản xuất. Tiếp tục xây dựng chương trình phát triển du lịch - dịch vụ, nhất là du lịch ven biển, hải đảo; tăng cường hợp tác liên doanh, mở rộng thị trường tiêu thụ nội địa và xuất khẩu, thu hút nhiều lao động, tạo thêm nhiều việc làm cho bà con ngư dân. Ðồng thời, chú trọng phát triển công tác giáo dục và đào tạo, y tế cơ sở ở các vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo; tăng cường lực lượng, phương tiện cho các binh chủng: Hải quân, Bộ đội Biên phòng và cảnh sát biển nhằm bảo đảm QP, AN để ngư dân yên tâm, vượt sóng ra khơi đánh bắt hải sản, góp phần canh giữ, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.