Các giải pháp trọng tâm phát triển nhanh hạ tầng giao thông

Trong những năm qua, thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; chiến lược và các quy hoạch phát triển giao thông vận tải (GTVT), kết cấu hạ tầng giao thông (KCHT GT) đã có bước phát triển mạnh mẽ, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển mọi mặt của đất nước. Tuy nhiên so với nhu cầu, hệ thống KCHT GT nước ta còn nhiều hạn chế, yếu kém thậm chí còn cản trở quá trình phát triển của đất nước với nhịp độ tăng trưởng cao hơn.

Ðại hội lần thứ XI của Ðảng đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, xác định mục tiêu "Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại" và "Phát triển nhanh kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông". Mới đây, Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành T.Ư Ðảng đã thông qua Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16-1-2012 về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết).

Nhận thức rõ vai trò của ngành, Bộ GTVT đã chủ động ban hành Quyết định số 560/QÐ-BGTVT ngày 15-3-2012 giao nhiệm vụ các cơ quan, đơn vị quán triệt và bắt tay ngay vào triển khai thực hiện với những nội dung trọng tâm như sau: Khẩn trương rà soát các chiến lược, quy hoạch chuyên ngành cho phù hợp các mục tiêu của Nghị quyết 13-NQ/TW. Trên cơ sở đó xem xét lại các mục tiêu cho từng giai đoạn đến năm 2015 và đến năm 2020 theo hướng tập trung nguồn lực cho các công trình lớn, quan trọng, có tính đột phá, tăng cường công tác quản lý bảo trì để kéo dài tuổi thọ và khai thác hiệu quả toàn hệ thống hạ tầng giao thông. Ðẩy mạnh công tác xây dựng những đề án trọng tâm để sớm trình Thủ tướng Chính phủ vào cuối năm 2012 và đầu năm 2013. Ðó là các đề án: Ðiều chỉnh, bổ sung Chiến lược phát triển GTVT đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030; Ðiều chỉnh, bổ sung Quy hoạch phát triển GTVT đường bộ Việt Nam đến năm 2020 và định hướng 2030; Ðiều chỉnh, bổ sung Quy hoạch phát triển GTVT đường sắt đến năm 2020 và định hướng đến 2030; Ðiều chỉnh, bổ sung Quy hoạch phát triển GTVT đường thủy nội địa đến năm 2020 và định hướng đến 2030...

Triển khai xây dựng các đề án và tổ chức thực hiện đầu tư xây dựng trên các lĩnh vực:

Về đường bộ: Hoàn thiện đề án Nâng cấp mở rộng quốc lộ 1A lên bốn làn xe với mục tiêu "hoàn thành toàn tuyến vào năm 2016"; xây dựng đề án đầu tư nối thông đường Hồ Chí Minh và nâng cấp đoạn qua Tây Nguyên. Phối hợp các địa phương triển khai thực hiện đầu tư đường ven biển theo quy hoạch được duyệt; từng bước xây dựng mạng đường bộ cao tốc, trước mắt ưu tiên đầu tư trước một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến bắc - nam, tuyến nối Hà Nội và TP Hồ Chí Minh với các cửa ngõ và các đầu mối giao thông quan trọng, phấn đấu đến năm 2015, hoàn thành khoảng 600 km đường cao tốc.

Về đường sắt: Xây dựng đề án Hiện đại hóa tuyến đường sắt bắc - nam hiện có theo đúng tinh thần của Nghị quyết và tiếp tục nghiên cứu các phương án khả thi đường sắt tốc độ cao để có kế hoạch đầu tư xây dựng phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nghiên cứu phương án đầu tư mới tuyến đường sắt khổ 1,435 m nối TP Hồ Chí Minh với TP Vũng Tàu, TP Hồ Chí Minh đi Cần Thơ.

Về đường thủy nội địa: Tiếp tục cải tạo, đầu tư nâng cấp các tuyến đường thủy nội địa chính vào cấp kỹ thuật theo quy hoạch; kết hợp tăng cường công tác quản lý, bảo trì, duy tu nhằm nâng cao khả năng thông qua của cả hệ thống và bảo đảm an toàn giao thông. Ðặc biệt chú trọng nâng cấp các tuyến vận tải thủy nội địa tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng Bắc Bộ.

Về cảng biển: Tiếp tục đầu tư phát triển đồng bộ hệ thống cảng biển quốc gia, các cảng cửa ngõ quốc tế, các bến cảng nước sâu tại ba vùng kinh tế trọng điểm có khả năng tiếp nhận các tàu công-ten-nơ thế hệ mới. Ưu tiên đầu tư đồng bộ, hiện đại hai cảng biển cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện (Hải Phòng) và cảng Cái Mép - Thị Vải (Bà Rịa - Vũng Tàu); khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư phát triển cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong (Khánh Hòa).

Về hàng không: Rà soát điều chỉnh kế hoạch phát triển KCHT theo các giai đoạn, trong đó ưu tiên phát triển các cảng hàng không quốc tế như: Nội Bài, TP Hồ Chí Minh, Ðà Nẵng, Cần Thơ, Cam Ranh. Ðẩy mạnh việc nghiên cứu chuẩn bị đầu tư xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành để có thể khai thác sau khi cảng hàng không Tân Sơn Nhất bị mãn tải.

Giao thông đô thị: Phát triển hợp lý hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đô thị và vận tải công cộng; Ðối với các thành phố lớn, phát triển mạnh hệ thống xe buýt; nhanh chóng đầu tư xây dựng các tuyến vận tải công cộng khối lượng lớn như đường sắt trên cao và tàu điện ngầm tại Thủ đô Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, trước mắt ưu tiên các tuyến tại Hà Nội (Ngọc Hồi - Yên Viên, Nhổn - ga Hà Nội, Nam Thăng Long - Thượng Ðình) và TP Hồ Chí Minh (Bến Thành - Tham Lương...).

Về giao thông nông thôn: Phát triển đường giao thông nông thôn cho phương tiện giao thông cơ giới tới tất cả trung tâm xã hoặc cụm xã, bảo đảm thông suốt quanh năm. Nâng cao tỷ lệ mặt đường cứng, rải nhựa; chú trọng phát triển giao thông đường thủy nội địa, đặc biệt ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Ðể hoàn thành những mục tiêu đã đề ra và phát triển ngành GTVT, đáp ứng yêu cầu CNH, HÐH đất nước và nhu cầu hội nhập và phát triển kinh tế - xã hội, Bộ GTVT đã và đang thực hiện một số giải pháp trọng tâm sau:

Về quản lý đầu tư xây dựng:

Phối hợp, tham gia các bộ, ngành trong việc sửa đổi, bổ sung Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quy hoạch, Luật Ðất đai, Luật Ðấu thầu, Luật Ðầu tư công, Luật Ðô thị, các luật khác có liên quan và các văn bản dưới luật để tạo thuận lợi cho phát triển kết cấu hạ tầng giao thông.

Tập trung đẩy nhanh tiến độ và tháo gỡ các khó khăn đối với các dự án có vốn đang triển khai để sớm hoàn thành các công trình dự án, đưa vào khai thác phát huy hiệu quả đầu tư. Tiếp tục nghiên cứu mở rộng các hình thức huy động vốn từ nhiều nguồn để đầu tư phát triển KCHT GTVT. Xây dựng đề án tái cơ cấu đầu tư công nhằm cân đối đầu tư giữa các ngành, các vùng miền, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và xây dựng đề án huy động các nguồn lực đột phá nhằm phát triển KCHT giao thông đáp ứng yêu cầu CNH, HÐH đất nước, trong đó kiến nghị với Chính phủ, các bộ, ngành liên quan về các cơ chế, chính sách huy động vốn ngoài ngân sách thông qua tổ chức triển khai Quỹ bảo trì đường bộ, rà soát các mức phí, lệ phí có liên quan để kiến nghị các cấp, các ngành điều chỉnh cho phù hợp, đặc biệt mức thu phí trên các tuyến quốc lộ.

Ðẩy mạnh cải cách hành chính, bảo đảm thông thoáng, thuận lợi, khắc phục phiền hà và giảm chi phí cho các nhà đầu tư. Phối hợp với Bộ Xây dựng hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật để đổi mới cơ chế quản lý đầu tư xây dựng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng công trình, hệ thống định mức, đơn giá, chế độ lập và duyệt dự toán trong công tác quản lý chất lượng công trình giao thông. Nâng cao chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư, hạn chế tối đa thất thoát, lãng phí; tăng cường kiểm tra, giám sát các công trình, dự án đầu tư bảo đảm tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Về quản lý kết cấu hạ tầng:

Nghiên cứu đề xuất sửa đổi hoặc ban hành mới một số cơ chế về quản lý kết cấu hạ tầng giao thông và xây dựng đề án Xã hội hóa quản lý khai thác kết cấu hạ tầng giao thông. Xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả kế hoạch bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông, chú trọng công tác bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông trọng điểm, đầu mối, đường cao tốc, quốc lộ, đường sắt bắc - nam, nạo vét, duy tu hàng hải tại các tuyến luồng trọng điểm...

Xây dựng đề án Thống kê dữ liệu kết cấu hạ tầng giao thông, đánh giá tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ làm cơ sở quản lý và khai thác có hiệu quả KCHT giao thông hiện có. Xây dựng đề án tái cơ cấu vận tải, phát triển hợp lý các phương thức vận tải để có định hướng một hệ thống vận tải đồng bộ, khai thác hiệu quả và hợp lý hơn các phương thức vận tải.

Về phát triển KHCN và nguồn nhân lực

Xây dựng và hoàn thiện các quy trình, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật. Tổ chức triển khai thực hiện Quy hoạch phát triển nhân lực ngành GTVT giai đoạn 2011-2020 và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ngành GTVT giai đoạn 2011-2015.

Trong quá trình triển khai thực hiện sẽ có những giải pháp và bước đi cụ thể phù hợp tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ. Ðồng thời, dưới sự chỉ đạo của Ðảng và Chính phủ, sự ủng hộ của các ngành, các cấp, nhất là các doanh nghiệp và nhân dân, Bộ GTVT phấn đấu thực hiện thắng lợi những mục tiêu đã được Hội nghị Trung ương 4 đề ra.

Có thể bạn quan tâm